Đề tài chiến tranh cách mạng trong văn học của đồng bào dân tộc thiểu số vùng trũng cần được khai phá

(VOH) - Nhắc đến văn học viết về chiến tranh của đồng bào dân tộc thiểu số, chúng ta đều không thể không nói đến <i>Bức thư làng mực</i> của Nguyễn Chí Trung, <i>Đồng bạc trắng hoa xòe</i> của Ma Văn Kháng, <i>Em đợi bộ đội Awa Hồ</i> của Y Điêng, <i>Đất nước đứng lên, Rừng xà nu</i> của Nguyễn Trung Thành, <i>Bài ca chim Chơrao</i> của Thu Bồn… mỗi tác phẩm đã thể hiện tấm lòng yêu nước mãnh liệt của đồng bào dân tộc như sông như suối, không khí cách mạng hừng hực ngập tràn sắc thái, giọng điệu sử thi.

Ma Văn Kháng - một trong những tác giả quen thuộc viết về đề tài chiến tranh của đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ sau đổi mới, văn học viết về chiến tranh đã có sự chuyển mình. Hòa vào dòng chảy văn học ấy, văn học viết về chiến tranh của đồng bào dân tộc cũng có những đổi mới căn bản, tuy chậm hơn. Đề tài chiến tranh cũng được mở rộng, phong phú hơn dưới mọi góc độ: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ câu chuyện anh hùng đậm chất sử thi đã chuyển qua người lính chân chất, bình thường với bao nỗi lo toan, từ vận mệnh toàn dân tộc đến số phận mỗi cá nhân, từ hào quang chiến thắng đến tổn thất đau thương… Có thể nói, văn học viết về chiến tranh của đồng bào dân tộc thiểu số ngoài việc tập trung miêu tả con người cộng đồng đã hướng đến tô đậm con người cá nhân, phản ánh được những mặt chìm khuất mà bấy lâu văn học chưa có điều kiện nói.

Tham gia viết về đề tài chiến tranh của đồng bào dân tộc thiểu số gồm hai đội ngũ sáng tác. Một là đội ngũ các nhà văn, nhà thơ người Kinh, có thể kể đến: Ma Văn Kháng, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Trung Thành, Trung Trung Đỉnh,… Hai là đội ngũ các nhà văn, nhà thơ là người dân tộc thiểu số, có thể kể đến: Y Điêng, Y Phương, Nông Quốc Chấn, Nông Thị Ngọc Hòa, Nông Minh Châu, Bàn Tài Ðoàn,… mỗi nhà văn với mỗi bút pháp và phong cách khác nhau, đã phần nào phản ánh được cái hồn của đồng bào dân tộc qua những năm tháng mưa bom bão đạn. Tác phẩm của mỗi nhà văn, nhà thơ đều hướng đến cách nhìn hiện thực phi sử thi. Văn học trở về với bản chất đích thực của nó, đó là cuộc sống, là những mất mát, đớn đau rất thực, là sự chờ đợi mỏi mòn của người ở lại... Có thể nói, trong mỗi trang viết về chiến tranh thì cái hồn, cái chất miền núi chân chất trong con người luôn làm say lòng người đọc nhất.

Tuy nhiên, số luợng tác phẩm, cả văn và thơ, viết về đề tài chiến tranh cách mạng thì vẫn chưa nhiều. Nhà văn Cao Duy Sơn - người con vùng đất Cao Bằng cũng cho rằng các tác phẩm viết về sự đóng góp của đồng bào dân tộc thiểu số trong sự đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc còn rất ít và chưa sâu sắc. Người viết chủ yếu là nhà văn người Kinh đã trải qua cuộc kháng chiến như Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng...

Thực tế cho thấy viết về đề tài chiến tranh là điều không dễ và với người trẻ sống trong hòa bình thì càng khó hơn. Nhà văn Đỗ Bích Thúy có ý kiến rằng ngoài sự trải nghiệm của bản thân nhà văn trẻ còn yếu thì tư liệu rất hiếm hoi cũng là nguyên nhân chính trong việc có quá ít tác phẩm viết về đề tài này. Dù rằng, các nhà văn trẻ vẫn đau đáu những tác phẩm văn học về quê hương mình, về những đóng góp của bà con trong kháng chiến nhưng dường như với họ quá sức. Theo tác giả “Chòm ba nhà” thì muốn viết tốt những tác phẩm văn học đề tài chiến tranh cách mạng ngoài vốn sống thì cần nhà văn kiên nhẫn, phải toàn tâm toàn ý và trách nhiệm cao.

Rõ ràng, đây là mảnh đất còn nhiều tiềm năng thế nhưng lại chưa thu hút được nhiều người quan tâm. Một mảng còn khá trống trong văn học Việt Nam. Hơn ai hết, những tác giả người dân tộc sống ở vùng đất mang truyền thống cách mạng cần có nhiều tác phẩm hơn nữa về mảnh đất gắn bó yêu thương.

Tuy nhiên, với lòng say nghề, yêu nghề, trăn trở với cuộc sống, chúng ta có quyền tin rằng trong thời gian ngắn, văn đàn sẽ xuất hiện nhiều tác phẩm hay viết về chiến tranh cách mạng, phản ánh về vùng đất và con người miền núi.