Đề tài chiến tranh Cách mạng trong văn học VN: Những dấu ấn đậm nét

Năm 1945, Tônxtôi - nhà văn chuyên viết về đề tài chiến tranh của Liên Xô, đã phỏng đoán: "Trong một trăm năm tới, chiến tranh vẫn là cảm hứng sáng tạo cho toàn bộ nghệ thuật - từ bi kịch và sử thi cho đến cả những bài thơ tứ tuyệt, trữ tình"...Trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay, mặc dù chưa ai thống kê được chính xác có bao nhiêu tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng nhưng có một điều chắc chắn, đó là nguồn cảm hứng sáng tạo lớn của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ. Những tính cách cao đẹp xuất hiện trong chiến tranh không những không mất đi mà còn thể hiện ở nhiều khía cạnh trong nhiều bài văn, bài thơ có sức hấp dẫn lớn. Một loạt những nhà văn, nhà thơ trưởng thành từ sau chiến tranh, đã thực sự chiếm lĩnh được sự tin cậy của độc giả. Đề tài chiến tranh luôn được phản ánh tinh tế với nhiều khía cạnh sâu sắc...

Sau 1975, lịch sử dân tộc chuyển sang một thời kì mới: bảo vệ và xây dựng cuộc sống bình yên cho nhân dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vượt qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế sau chiến tranh, đất nước dần thay da đổi thịt, dần dần đi vào quĩ đạo của con đường đổi mới, nhưng những dư âm của cuộc chiến thần thánh vừa qua vẫn là dấu ấn khôn nguôi cho những người cầm bút.
Từ 1986, với công cuộc đổi mới của Đảng, văn học nói chung và văn học về đề tài chiến tranh Cách mạng nói riêng có sự chuyển mình. Cuộc kháng chiến của dân tộc ngày hôm qua không chỉ được nhìn ở góc độ ngợi ca lãng mạn, mà cả những góc khuất, những mất mát đau thương của hiện thực chiến tranh được phơi bày lên trang giấy. Người lính vào vai nhân vật “tôi” kể chuyện, bộc bạch nỗi niềm, dấu ấn chiến tranh hằn sâu trong mỗi số phận, mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi khác. Cảm hứng ngợi ca được thay bằng giọng nói tâm tình, đối thoại, ngẫm ngợi… Cảm hứng bi kịch bắt đầu xuất hiện. Hàng loạt tác phẩm tập trung nói về số phận bi kịch của người trở về gây được tiếng vang trong lòng độc giả như: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp…
Cảm hứng bi kịch càng đau đớn, xa xót hơn khi các tác giả viết về hạnh phúc, tình yêu. Trong chiến tranh, người phụ nữ đã hy sinh quãng đời đẹp nhất của mình, bom đạn và sự tàn phá của thời gian đã tước đoạt tiếp cơ hội làm vợ, làm mẹ của họ. Sau hòa bình, họ chỉ còn lại hình hài đầy thương tích cùng những chuỗi ngày buồn đầy xót xa, trăn trở. Trong Hai người đàn bà xóm Trại, Nhà văn Xuân Thiều cho ta thấm thía hơn bao giờ hết sự chung thủy đợi chờ sắt son của người phụ nữ.
Sau chiến tranh, những người lính ra đi vĩnh viễn, để những người ở lại mòn mỏi ngóng trông bởi ước mơ làm mẹ, làm vợ. Motif “hòn vọng phu” thời hiện đại trở thành đề tài nổi bật trong văn xuôi chiến tranh trong thập niên cuối 80, đầu 90. Đó là những cô Ân, cô Mật trong Hai người đàn bà xóm Trại. Từ thuở: “má rực đỏ, nụ cười trong trẻo và rạo rực vang trên mặt sông”, đến nay họ đã là bà lão Ân, bà lão Mật với gương mặt: “nhăn nheo và sạm đen” lụm cụm nương tựa nhau, nhai trầu trong tiếng mọt vọng tới từ hai cỗ áo quan dành cho họ…và họ vẫn cứ đợi, cứ chờ.
Đặc biệt, nhiều tác giả đã nới rộng phạm vi phản ánh hiện thực bằng cách khai thác yếu tố tâm linh, huyền thoại, mang đến những gam màu lạ, táo bạo cho văn xuôi sau chiến tranh Cách mạng nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Bến trần gian của Lưu Sơn Minh, Người sông Mê của Châu Diên, Tàn đen đóm đỏ của Phạm Ngọc Tiến, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh…là những tác phẩm mang đậm yếu tố tâm linh, huyền hoặc mơ hồ, nhưng vẫn tạo ra được những dấu ấn rất lạ cho dòng văn học này.
Bước sang thiên niên kỷ mới, văn học viết về chiến tranh Cách mạng tiếp tục đồng hành với sự phát triển của văn học dân tộc. Có thể nói bắt đầu từ năm 2005, khi những tài liệu bí mật quân sự được giải mã, những cuốn hồi ký, nhật ký chiến tranh được công bố, thì các tác giả viết về đề tài chiến tranh cách mạng và người lính đã tự tìm được lối đi riêng, tạo nên một diện mạo mới. Dòng văn học về chiến tranh Cách mạng đã có những đổi mới căn bản. Vấn đề con người hai phía chiến tuyến trong và sau chiến tranh được nhìn nhận một cách thấu đáo, trung thực. Mỗi nhà văn đều xuất phát từ cái nhìn tôn trọng sự thật, vì thế ngòi bút trở nên gai góc, chân thực hơn.
Tham gia sáng tác về đề tài chiến tranh, gồm nhiều thế hệ nhà văn cả trong quân đội và ngoài quân đội. Những tác giả đang ở quân ngũ, những người lính một thời lăn lộn trên bao nẻo đường chiến dịch, viết về chiến tranh bằng hoài niệm, trải nghiệm. Có thể nói đến Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn, Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy, Ngày rất dài của Nam Hà, 13 bến nước của Sương Nguyệt Minh, Tiếng chuông chiều của Lê Hoài Lương…Còn những nhà văn trẻ thường thông qua tư liệu lịch sử để viết về chiến tranh, nhiều nhà văn trẻ đã tạo được dấu ấn cho riêng mình. Đó là Nguyễn Đình Tú với Bên dòng sầu diện, Nguyễn Xuân Thủy với Biển xanh màu lá, Bùi Thị Như Lan với Núi đợi…Hầu hết các tác phẩm viết về chiến tranh đã có sự “dời toa”, chiến tranh được nhìn nhận một cách biện chứng, bi và hùng, được và mất,…luôn đồng hiện, và đôi khi nổi rõ cả hai mặt trong một con người.
Có thể nhận thấy, truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, trường ca…đều có sự vận động phát triển mạnh mẽ. Mỗi nhà văn đều có hướng sáng tạo mang đậm cá tính riêng. Bằng ngòi bút, mỗi nhà văn tiếp tục làm rõ những giá trị truyền thống bền vững của con người Việt Nam trong chiến tranh; mặt khác, xuất phát từ yêu cầu cuộc sống hiện tại, tìm ra trong chiến tranh những bài học, những kinh nghiệm quý báu nhằm góp phần can thiệp vào những vấn đề nóng hổi và phức tạp của cuộc sống hôm nay. Từ đó cho thấy sự thay đổi về tư duy, cách nhìn lịch sử, con người toàn diện, để vươn tới những tác phẩm sâu sắc hơn, nhân bản hơn.
Quan sát cuộc thi truyện ngắn, bút ký trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, báo Văn nghệ (Tuần báo của Hội nhà văn Việt Nam) hay qua các cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết, trường ca, viết hồi ký về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang do Bộ Quốc phòng tổ chức cùng các đầu sách xuất bản trong nhiều năm qua, chúng ta có thể thấy đề tài chiến tranh cách mạng vẫn đang quẫy cựa, vẫn đang chuẩn bị hạt giống cho những mùa sau để có những mầm xanh hi vọng, trả món nợ văn chương.

Bình luận