Đã hơn 50 năm trôi qua kể từ khi bài thơ "Quê hương" ra đời nhưng cảm xúc của tác giả - nhà thơ Giang Nam thì dường như vẫn còn nguyên vẹn khi ông trải lòng với những vần thơ nức nở của mình. Bài thơ "Quê hương" chính là nỗi đau của người lính Giang Nam được viết ra vào một đêm tháng 12/1960 khi nghe tin vợ con mình bị địch thủ tiêu trong nhà tù Phú Lợi (Sài Gòn). Dù sự thật sau đó là vợ con ông vẫn còn sống nhưng chính những xúc cảm chân thật về nỗi đau chiến tranh, về sự hi sinh mất mát chung của toàn dân tộc đã giúp cho thi phẩm "Quê hương" sống mãi với thời gian, trở thành cột mốc quan trọng trong cuộc đời cách mạng và thơ ca của Giang Nam. Nhà thơ ở tuổi 85 bồi hồi nhớ lại: “Khi bài thơ này ra đời thì cả miền Bắc, cả miền Nam đều biết đến cái tên Giang Nam, đối với tôi đó là một sự giới thiệu đặc biệt. Và tôi cũng không ngờ là nỗi đau riêng của mình lại được nỗi đau chung của người đọc ủng hộ. Khi ấy, viết ra thì anh em khen nhưng mà lại nói là coi chừng sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của anh em, nhưng mà tôi vẫn tin rằng những điều mình nói là đúng với sự thật, đúng với nỗi đau, có đau nhiều thì mới có chiến đấu nhiều...”
Biết bao vần thơ trầm hùng, bi tráng đã ra đời ngay trong khói lửa chiến tranh, góp phần cổ vũ cho tinh thần chiến đấu, lòng yêu nước của toàn dân tộc trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kì. Biết bao cuộc đời tươi trẻ với bầu nhiệt huyết của tuổi đôi mươi đã xông pha, đã ngã xuống vì hòa bình độc lập của đất nước. Trong chặng đường lịch sử ấy, những vần thơ của những nhà thơ kháng chiến lại vang lên; vượt qua cả không gian, thời gian; vượt qua cả những thủ pháp và ngôn từ thi ca để trở thành “chứng nhân” của lịch sử hào hùng. Đó là khoảnh khắc đồng cảm, nghẹn ngào của nhà thơ Vũ Cao khi được nghe kể về một chuyện tình buồn có thật giữa một anh bộ đội và một cô du kích, để rồi chấp bút viết ra những câu thơ “Núi đôi” để đời vào cuối năm 1956:
“...Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn Đôi mà anh mất em !”
(Trích bài thơ “Núi Đôi” - Vũ Cao)
Đó còn là những giây phút khốc liệt, bi thương; những tiếng thơ xé lòng của nhà thơ Yến Thanh khi chứng kiến đồng đội Hồ Thị Cúc và 9 cô gái thanh niên xung phong của tiểu đội 4 - đại đội 552 đã anh dũng hi sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc vào ngày 24/7/1968:
“...Cúc ơi! Em ở đâu?
Về với bọn anh
Tắm nước sông Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp Năm em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn...”
(Trích bài thơ “Cúc ơi” - Yến Thanh)
Chiến tranh đã qua đi nhưng những nỗi đau, những ký ức bi tráng, hào hùng của một thời tuổi trẻ thì vẫn còn đó. Và những vần thơ vẫn tiếp tục được những người ở lại ngân lên để tưởng nhớ, tri ân những đồng đội, chiến sĩ, những người con anh hùng của đất nước. Nhà thơ, cựu chiến binh Lê Bá Dương trong hơn 20 năm qua, năm nào cũng về bên dòng Thạch Hãn để thả hoa tưởng nhớ đồng đội đã hi sinh trên chiến trường Quảng Trị, từ việc làm ý nghĩa đó của ông đã hình thành nên lễ hội thả hoa - một nét văn hóa tại địa phương này. Đặc biệt, Lê Bá Dương còn là tác giả của bài thơ tứ tuyệt bất hủ “Lời người bên sông” - lời của những người đã đi qua cuộc chiến hướng về những đồng đội anh hùng, những người con của tuổi 20 bất tử:
“Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.”
(“Lời người bên sông” - Lê Bá Dương)
Hơn 20 năm qua, bài thơ “Lời người bên sông” dù có nhiều dị bản khác nhau nhưng tiếng lòng của người lính Lê Bá Dương dành cho những đồng đội của mình thì vẫn luôn đong đầy, vẹn nguyên và có sức lan tỏa mạnh mẽ. Nhà thơ xúc động chia sẻ: “Tôi cũng không nghĩ rằng tiếng lòng của mình, mình ghi lại thành khổ thơ như vậy thì lại có được sự đồng cảm của rất nhiều người, từ bạn bè, anh em, đồng đội cho đến đồng bào, chiến sĩ ở các nơi thì cũng rất đồng cảm với tình cảm của tôi. Đó cũng không phải là sự nổi tiếng mà đơn giản chỉ là sự đồng cảm với tiếng lòng của một người lính. Trong ngày trở về với đồng đội của mình, ngồi bên bờ sông và nhớ về thời quá khứ, nhìn thấy những mái chèo thì mình có cảm giác như mái chèo đang khuấy vào trong lòng mình. Đã mấy chục năm rồi mà cảm giác đó vẫn còn nguyên vẹn...”.

Ngay khi ra đời từ năm 1993, bài thơ “Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh” của nhà báo, nhà thơ Văn Hiền đã làm lay động hàng triệu trái tim người Việt Nam và cả bạn bè quốc tế. Tiếng thơ cũng chính là nỗi trăn trở, đau xót của Văn Hiền về cụm từ “liệt sĩ vô danh” ghi trên những tấm bia tại nghĩa trang:
“...Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh
Anh từng có tên như bao khuôn mặt khác
Tổ quốc không đánh mất tên anh
Chỉ lặng thầm nhận về mình nỗi đau xanh cùng năm tháng...”
(Trích bài thơ “Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh” - Văn Hiền)
Không chỉ được phổ nhạc, được khắc trên bia đá tại hai nghĩa trang quốc tế ở Nghệ An mà dưới sức tác động của bài thơ “Xin đừng gọi Anh là liệt sĩ vô danh”, tháng 7/1996, Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam đã quyết định đổi tên “liệt sĩ vô danh” thành “chưa biết tên tuổi, quê quán”. Qua đó, chúng ta càng thấy rõ sự lan tỏa, sức chiến đấu và tiếng nói của thi ca yêu nước trong hành trình bảo vệ và xây dựng đất nước.
“Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi!”
(Trích bài thơ “Quê hương” - Giang Nam)
Hi vọng rằng trong mỗi phút giây hòa bình hôm nay, những vần thơ trầm hùng - những “chứng nhân” của truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc sẽ luôn được các thế hệ VN biết trân quý, ra sức giữ gìn và phát huy. Và mỗi vần thơ của lịch sử được cất lên sẽ là một lời tri ân, một nén tâm nhang ý nghĩa để dâng lên hương linh các anh hùng, liệt sĩ, những người đã hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình để giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.






.jpg?w=1600&q=85)
















