Theo Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thực trạng tiếp cận nước an toàn vẫn còn đáng lo: chỉ khoảng 58% người dân nông thôn sử dụng nước đạt quy chuẩn quốc gia và mới 8% được cấp nước từ công trình tập trung. Khoảng trống hạ tầng, vốn và quản trị đang là ba “điểm nghẽn” lớn nhất.
Ông Giáp Mai Thùy, Phó Trưởng phòng Quản lý Nước sạch nông thôn, cho biết giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực cấp nước nông thôn đã hỗ trợ hoàn thành các chỉ tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; chuyển đổi số được triển khai đồng bộ từ trung ương đến địa phương.
Nhiều giải pháp kỹ thuật mới được áp dụng như giám sát chất lượng nước trực tuyến, bể lọc tiếp xúc sinh học xử lý amoni hữu cơ, vật liệu lọc đa tầng, kết hợp năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng cho cấp nước hộ gia đình.
Thiếu vốn vẫn là nút thắt. Giai đoạn 2020-2024, tổng đầu tư cho cấp nước nông thôn đạt khoảng 13,4 ngàn tỉ đồng, trong khi nhu cầu 2021-2025 ước 29,2 ngàn tỉ đồng tức thiếu gần 16 ngàn tỉ đồng. Vốn hạn chế khiến nhiều dự án quy mô nhỏ, phân tán, khó duy trì vận hành ổn định.
Ông Lương Văn Anh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, cho biết cả nước có khoảng 18.000 công trình cấp nước nông thôn, trong đó hơn 6.000 công trình là mô hình rất nhỏ, chủ yếu tại vùng núi như Gia Lai, Kon Tum (cũ).
Phần lớn chỉ phục vụ khoảng 10 hộ, hình thành bằng cách đắp suối - kéo ống chung, không đạt chuẩn hệ thống cấp nước tập trung, chất lượng nước khó đảm bảo. Nhu cầu nước sinh hoạt tiếp tục tăng theo tốc độ đô thị hóa - công nghiệp hóa nông thôn.
Tỷ lệ 8% hộ dùng nước từ công trình tập trung cho thấy mạng lưới vẫn chưa vươn tới số đông.
Lý do chính gồm: Địa hình phân tán, dân cư thưa, chi phí đầu tư - vận hành cao tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo; Thiếu mô hình quản trị bền vững, nhiều công trình sau đầu tư không có đơn vị chuyên nghiệp vận hành, thiếu nguồn thu bù chi; Giá nước chưa phản ánh đủ chi phí, khó thu hút xã hội hóa; Chất lượng nguồn nước tự nhiên suy giảm (nhiễm amoni, sắt, mangan, vi sinh…) trong khi công nghệ xử lý tại chỗ của hộ dân còn hạn chế.
Để “lấp khoảng trống”, Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam Trần Bá Hoằng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục tăng cường chính sách hỗ trợ mở rộng hệ thống cấp nước sạch nông thôn, hướng tới 80% hộ nông thôn tiếp cận nước an toàn vào năm 2030.
Song song, ông Giáp Mai Thùy nhấn mạnh cần: Hoàn thiện khung cơ chế và đầu tư các công trình tập trung quy mô lớn, đồng bộ, hiện đại, ưu tiên khu vực khan hiếm nước, vùng hạn hán, vùng sâu - xa, hải đảo.
Tái thiết mô hình tổ chức quản lý theo hướng chính quyền hai cấp (tỉnh/huyện) gắn trách nhiệm, chuyên nghiệp hóa vận hành.
Rà soát, điều chỉnh giá nước theo lộ trình phù hợp thực tế, hài hòa giữa khả năng chi trả và yêu cầu tái đầu tư.
Hướng dẫn hộ dân giải pháp thu - trữ - xử lý nước an toàn tại chỗ (bể chứa, lọc sơ bộ, khử trùng), như một “lớp đệm” trước khi hệ thống tập trung phủ kín.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thiện dự thảo nghị định mới về quản lý nước sạch nông thôn, quy định từ đầu tư, vận hành đến huy động vốn xã hội hóa, kỳ vọng khắc phục bất cập, tạo hành lang pháp lý thông suốt để doanh nghiệp và tổ chức kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ.



