Thật vậy, với hơn 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, bờ biển dài đẹp không chỉ mang đến cho Việt Nam nguồn tài nguyên quý giá mà còn là vũ khí tự nhiên bí mật giúp Cách mạng Việt Nam tiến đến chiến thắng cuối cùng nhanh hơn, hiệu quả hơn. Cùng với đường mòn Trường Sơn bên bộ thì tuyến đường vận tải quân sự trên biển Đông mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã điểm tô trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta thêm một cung đường xứng tầm huyền thoại. 60 năm đã qua đi kể từ ngày đường trên biển được khai mở, vẻ đẹp về sự sáng tạo trong nghệ thuật quân sự và lòng quả cảm anh dũng chiến đấu quên mình của bao cán bộ, chiến sĩ hải quân vẫn tỏa rạng lấp lánh như mặt biển Đông lúc bình minh ló dạng. Biển càng mặn, tình lại càng sâu...
Nhân kỷ niệm 60 ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 – 23/10/2021), Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh VOH xin giới thiệu đến quý thính giả loạt bài “Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển”.
Kì 1 “Những người viết huyền thoại”
Nghe bài viết tại đây
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng khẳng định: “Do có vị trí quan trọng, có bờ biển dài, nhiều sông lớn, nên từ xưa tới nay, kẻ địch bên ngoài thường lợi dụng đường biển và sông để xâm lược nước ta. Ở trên biển, trên sông, trong quá trình lịch sử, dân tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống chống ngoại xâm anh hùng bất khuất; đã ghi biết bao sự tích anh hùng trên non sông đất nước ta nói chung, trên sông biển nước ta nói riêng”. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Cách mạng Việt Nam đã có những con tàu chở hàng hóa, vũ khí mang nặng ân tình của hậu phương lớn miền Bắc dành cho chiến trường miền Nam ruột thịt. “Đoàn tàu Không số“ lướt đi hiên ngang trên mặt Biển Đông, nhưng lại như vô hình trong tầm kiểm soát của địch. Ngày tuyến vận tải mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh trên biển được khai mở cũng là lúc bắt đầu những huyền thoại về “Đoàn tàu Không số” được viết nên từ đó…
Từ năm 1954, đế quốc Mỹ lợi dụng hiệp định Geneve, hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam, âm mưu thôn tính miền Nam, chia cắt đất nước ta lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Một trong những bước đi để thực hiện âm mưu chiến lược cơ bản của chúng là lập tuyến phòng thủ và ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, trong đó có sự chi viện bằng đường biển. Được Mỹ viện trợ và xây dựng, Hải quân Ngụy Sài Gòn đã phát triển nhanh chóng. Chính quyền Sài Gòn đã tổ chức một mạng lưới tình báo dọc ven biển bằng lực lượng “hải thuyền” với vũ khí trang bị kỹ thuật của Mỹ. Từ khoảng 80 chiếc năm 1960 đã tăng lên khoảng 650 chiếc vào năm 1961 bố trí dọc ven biển miền Nam. Lực lượng này sau đó đã sáp nhập vào lực lượng Hải quân Ngụy Sài Gòn.
Để chống lại dã tâm xâm lược của kẻ thù, hơn lúc nào hết, miền Nam cần có vũ khí và phương tiện để sẵn sàng chiến đấu. Giữa năm 1961, những người con Nam Bộ anh dũng, kiên cường đã tổ chức 5 đội thuyền vượt biển ra miền Bắc xin vũ khí. Trong đó có 1 đội của tỉnh Bạc Liêu (Cà Mau), 1 đội của tỉnh Trà Vinh, 2 đội của tỉnh Bến Tre và 1 đội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nói là thuyền vượt biển nhưng thực chất đó chỉ là những chiếc ghe đánh cá thô sơ, có thể vỡ tan bất cứ lúc nào trước bão to, sóng cả.
Thiếu tá Nguyễn Văn Đức, nay đã bước qua tuổi 80 – nguyên là Thuyền trưởng Tàu Không số, nguyên Tham mưu phó Đoàn 125 – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, hiện nay là Chủ tịch Hội truyền thống Đoàn tàu không số TPHCM, khi ấy ông cũng là một trong những cán bộ chiến sĩ đầu tiên vượt biển Đông cùng đội tàu Bến Tre ra đến miền Bắc an toàn. Ông kể lại: “Khi đó thuyền đánh cá nhỏ chỉ tầm 10 người là có thể kéo lên bờ. Xưa nay ông cha mình chưa từng vượt biển ra Bắc với loại thuyền như thế. Cực kỳ khó khăn, thậm chí có lúc bế tắc nhưng lòng quyết tâm rất cao khi đồng bào miền Nam đang chờ mình mang vũ khí vào để chiến đấu với địch. Ra đến nơi an toàn, được gặp Bác Hồ…Thưa với Bác chiến trường miền Nam đang khan hiếm vũ khí lắm. Bác nói yên tâm, chuyện đó đã có Trung ương lo, cuộc chiến còn dài, các cháu phải xác định quyết tâm chiến đấu tới cùng. Những lời căn dặn của Bác đến chết chúng tôi cũng không thể nào quên được…”.
Lòng quả cảm của những người con ưu tú miền Nam đã được Trung ương trân trọng ghi nhận và đáp lại bằng một quyết định mang tính chiến lược. Đại tá Tô Hải Nam, Nguyên Tổng Biên tập báo Hải quân Việt Nam, Chánh văn phòng Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển Việt Nam cho biết: “Trước yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam, cùng với đường bộ 559 vượt dãy Trường Sơn, tháng 7 năm 1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Đoàn vận tải thủy, có nhiệm vụ vận tải chi viện vũ khí, trang bị và cán bộ, chiến sĩ cho chiến trường miền Nam bằng đường biển mang tên Đoàn 759, sau này là Đoàn 125, Trung đoàn 125 và Lữ đoàn 125.”
Ngày 23/10/1961 là ngày mở đầu trang sử đầy cam go, quyết liệt nhưng cũng rất đỗi hào hùng của Đoàn vận tải quân sự đường biển 759. Đến cuối tháng 2/1962, Đoàn có tổng cộng 73 người, trong đó 20 người là cán bộ, thủy thủ của các đội thuyền miền Nam vượt biển ra Bắc, 53 thành viên còn lại là những đồng chí có giác ngộ chính trị cao, thông thạo nghề biển, một số khác là các đồng chí tập kết ra Bắc. Trong 53 người này có 12 thuyền trưởng, 15 thuyền phó, 10 thợ máy, 4 chiến sĩ thông tin và 12 thủy thủ.
Ngày 11/10/1962, chiếc tàu vỏ gỗ, mang mật danh “Phương Đông 1” cùng với thủy thủ đoàn được lệnh bí mật rời bến Vụng Sét – Đồ Sơn (Hải Phòng) đi Cà Mau chở theo 30 tấn vũ khí. Sau 9 ngày gian nan vượt biển, chuyến tàu đầu tiên đã an toàn vào đến cửa Vàm Lũng, ấp Rạch Gốc, tỉnh Cà Mau, mở đầu trang sử mới hào hùng trên con đường huyền thoại mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng sau này. Thiếu tá Nguyễn Văn Đức nhận định: “4 chuyến tàu Phương Đông liên tục cập bến Cà Mau an toàn từ tháng 10/1962 đến tháng 12/1962 mang một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Cách mạng thời điểm bấy giờ, đánh dấu 1 bước quan trọng trong chiến dịch mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Đi 4 chuyến được 120 tấn vũ khí. Đây là con đường đi nhanh nhất, hiệu quả nhất. Chỉ mất 7 ngày, vũ khí đã vào đến được Cà Mau còn mới nguyên...”.
Quả thật, vượt Biển Đông vào Nam chưa bao giờ là hải trình đơn giản. Ngoài trái tim quả cảm thì bản lĩnh cách mạng được trui rèn chính là hành trang của những cán bộ, chiến sĩ “Đoàn tàu Không số” khi tham gia nhiệm vụ này. Ở tuổi 88, thiếu úy Phan Nhạn - máy trưởng tàu Phương Đông 2 – Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân chia sẻ về những khó khăn đã gặp phải: “Thứ nhất là thời tiết; thứ hai là phương tiện, thứ 3 là tình hình địch. Chỉ có một thuận lợi duy nhất là chi bộ. Chi bộ đã động viên rằng, dù khó khăn cách mấy các đồng chí cũng phải quyết tâm vượt qua, Nhân dân và quân giải phóng miền Nam đang ngóng chờ các đồng chí, ngóng chờ từng giờ từng phút”.
Tính đến tháng 8/1963, Đoàn 759 đã tổ chức thành lập 9 đội tàu, thực hiện 12 chuyến đi, trong đó 4 chuyến bằng tàu gỗ, thuyền gỗ và 8 chuyến bằng tàu sắt, vận chuyển 585 tấn vũ khí vào Nam Bộ an toàn. Mỗi con tàu vượt biển ra khơi đều có một số hiệu khác nhau, thế nhưng vì sao người ta vẫn gọi là “Đoàn tàu Không số”? Thiếu tá Nguyễn Văn Đức lí giải: “Thực chất mỗi con tàu đều có số hiệu, thậm chí là nhiều số hiệu để nghi trang, đánh lạc hướng kẻ thù khi tàu di chuyển trên biển Đông. Không chỉ đổi biển số, đôi khi còn sơn vỏ tàu, lắp thêm các chi tiết, treo cờ của các quốc gia khác nhau… Mục tiêu cuối cùng là để tuyệt đối giữ bí mật”.
“Tàu không số…
Không phải vì không có số
Giấu số đi che mắt kẻ thù
Ra đi khi sóng gầm bão tố
Ra đi khi sương gió mịt mù…
Tàu không số…
Mở tuyến đường không dấu
Những con người tài trí vô song
Giặc ngăn cản trăm phương nghìn kế
Vẫn tung hoành ngang dọc biển Đông…”
Ngày 29/1/1964, Đoàn 759 về trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân, đổi phiên hiệu là Đoàn 125, tương đương cấp Trung đoàn, với nhiệm vụ: vận chuyển hàng (chủ yếu là vũ khí) bằng đường biển từ miền Bắc vào Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Khu 5. Sau thời gian khảo sát thực tế, Đoàn đã tổ chức mở các bến Vũng Rô (Phú Yên), Lộ Giao (Bình Định), Đạm Thủy (Phổ An – Quảng Ngãi) và Bình Đào (Quảng Nam). Đây thực sự là một thử thách mới đối với các cán bộ, chiến sĩ của “Đoàn tàu Không số”. So với các bến bãi ở Đồng bằng Sông Cửu Long thì các bến mới ở Nam Trung Bộ có vị trí và cả địa hình khác hẳn, tạo nhiều thách thức hơn cho các đoàn vận tải. Trung tá Hồ Đắc Thạnh (sinh năm 1934) – Thuyền trưởng tàu C41 - Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân, người thực hiện chuyến hàng đầu tiên an toàn vào khu vực Quảng Ngãi bằng tàu sắt chia sẻ: “Khu vực này là bãi ngang nên tàu rất khó vào. Tàu C41 khi thực hiện nhiệm vụ này thành công, đánh dấu 1 bước tiến quan trọng cho việc chi viện vũ khí vào chiến trường Nam Trung Bộ…Khi không bắt được liên lạc với bến, tôi quyết định cho thả hàng. Chân vịt của tàu bị hỏng. Tôi cho anh em bơi vào bờ trước. Tôi cùng máy trưởng Phan Nhạn ở lại chuẩn bị bộc phá cho nổ tàu. Hẹn giờ 30 phút cho kíp nổ, cho tàu chạy hết tốc lực hướng về phía địch. Tôi và máy trưởng Nhạn bơi vào sau”.
Trong khi đó tại Vũng Rô, sự kiện tàu C143 bị địch phát hiện khi đang làm nhiệm vụ vào ngày 16/2/1965 đã khiến cho tuyến đường chi viện chiến trường miền Nam về sau gặp rất nhiều khó khăn. Các cán bộ “Đoàn tàu Không số” nhận định: “Từ thời điểm này trở đi việc chuyển hàng cực kì khó khăn, đi vòng sang cả các nước trong khu vực nhưng vẫn bị địch theo dõi sát, buộc phải quay về. Mỹ tăng cường trang bị vũ khí cho chính quyền ngụy, hạm đội 7 cũng tăng cường tàu khu trục và máy bay giám sát chặt chẽ trên mặt biển từ vĩ tuyến 17 trở vào…Có những lúc khó khăn quá không đi được thì tàu phải về”.
Từ tháng 7 đến tháng 10/1965, Đoàn 125 làm công tác chuẩn bị,vừa huấn luyện, tu sửa tàu vừa lên kế hoạch cho một hải trình mới xuất phát từ Đồ Sơn – Hải Phòng qua Hải Khẩu – Trung Quốc, rồi chuyển hướng theo đường hàng hải quốc tế xuống Đông quần đảo Hoàng Sa và Tây quần đảo Trường Sa, hòa vào dòng tàu thuyền xuôi ngược để vào Đông Nam Cà Mau. Trung tá Vũ Trung Tính, Chủ tịch Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển tỉnh Thanh Hóa đã cùng đồng đội thực hiện 18 chuyến vận chuyển vũ khí vào chi viện cho chiến trường miền Nam trên hai con tàu anh hùng là Tàu C42 và Tàu C154 trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Nay đã 77 tuổi, ông Tính nhớ lại lần làm nhiệm vụ của tàu C42 khi làm nhiệm vụ tái mở đường thành công sau sự kiện Vũng Rô. Chuyến đi đã mở ra hướng đi mới, đưa tàu đi xa bờ để chuyển hàng đến đích. Ông Tính kể: “Mừng vui khôn xiết sau 8 tháng không có chuyến nào vận chuyển thành công. Chuyến này chúng tôi đã đánh lừa được địch, tàu khu trục Mỹ muốn bắt chúng tôi nhưng không bắt được, chúng tôi cũng không phải hủy tàu. Tàu C42 đã mang vào bến 60 tấn vũ khí và 4 quả thủy lôi. Sau đó có nhiều chuyến khác như tàu 100, tàu 68, tàu 69…tiếp tục vận chuyển vũ khí cho chiến trường miền Nam theo lộ trình của tàu 42. Nhiều vũ khí lần lượt được cung cấp cho quân và dân giải phóng liên tiếp đánh được những trận đánh lớn ở chiến trường miền Nam”.
Trong giai đoạn 1965 đến 1968, Đoàn 125 được điều động tăng lên 17 chiếc tàu vận tải, tổ chức được 27 chuyến đi nhưng chỉ có 7 chuyến hàng vào bến và trở về an toàn, 11 lần gặp địch phải quay về, 9 lần xảy ra chiến đấu. Mỗi một ngày vũ khí còn chưa thể vào lại miền Nam là thêm bao máu xương của đồng bảo lại đổ xuống. Cả hậu phương lớn miền Bắc cháy lòng lo lắng khôn nguôi. Đại tá Hồ Văn Kiêm - Nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 125, Vùng 2 Hải quân - Phó Chủ tịch Hội truyền thống Đoàn tàu không số TPHCM kể về chuyến đi chưa thể đưa hàng vào bến của 4 đội tàu C165, C43B, C235 và tàu của ông là C56: “Đêm 23/2/1968, 4 chuyến xuất phát khác nhau nhưng mục tiêu là cùng vào bến 1 lúc, để nếu có tàu nào bị lộ thì sẽ thu hút địch về phía mình, các tàu khác sẽ an toàn vào bến. Thế nhưng không chuyến nào thành công, chỉ có 1 chuyến phải quay về do địch theo dõi, 3 chuyến xảy ra chiến đấu dữ dội phải hủy tàu gồm C165, C43B, C235”.
Mãi đến gần cuối năm 1969, những nỗ lực không ngừng nghỉ của cán bộ chiến sĩ “Đoàn tàu Không số” đã được đền đáp bằng một chuyến hàng vào bến thành công. Sau một thời gian dài hơn 20 tháng tạm ngừng vận chuyển kể từ tháng 2/1968 đến tháng 10/1969, chuyến đi của C154 đã nối lại “nhịp cầu” vận chuyển giữa Đoàn 125 và bến Cà Mau thành công. Thủy thủ đoàn trên chiếc tàu C154 tổng cộng 19 người nhưng có đến 5 cán bộ thuyền dày dặn kinh nghiệm để đảm đương trọng trách đầy khó khăn này. Trung tá Vũ Trung Tính, thiếu tá Nguyễn Văn Đức thành viên trên tàu C154 khi đó kể lại: “Sau Mậu Thân 1968, Mỹ tăng cường kiểm soát gắt gao trên biển nên không có chuyến tàu nào vào bến thành công. Tàu C154 đã đánh dấu chuyến đi tái mở đường thành công…Ròng rã có khi mỗi ngày chỉ có muỗng cháo, nhưng cuối cùng anh em cũng vào được bến Cà Mau. Mừng rơi nước mắt. Chuyến đi tái mở đường này đã mang được vũ khí cho đồng bào miền Nam sau 11 ngày lênh đênh trên biển qua các hải phận nhiều nước Đông Nam Á…mang được gần 60 tấn vũ khí vào. Tiết kiệm được biết bao nhiêu xương máu của đồng đội mình”.
Khi những cánh quân trên bộ liên tiếp giành những thắng lợi trong chiến dịch Hồ Chí Minh “thần tốc, táo bạo, bất ngờ” thì ngoài khơi xa, “Đoàn tàu Không số” cũng lặng lẽ góp phần giải phóng quần đảo Trường Sa. Khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ của đảo cũng là lúc bao ánh mắt nhòe đi trong niềm vui non sông liền một dải.
Gần 14 năm lênh đênh cùng những con tàu xuôi ngược Biển Đông, “Đoàn tàu Không số” đã trở thành “một hiện tượng kỳ lạ, vượt qua cả sự tưởng tượng thông thường” trong mắt kẻ thù và cả dư luận thế giới. Nếu trên bộ chúng ta chấp nhận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” thì giữa biển cả mênh mông ta cũng vẽ nên một con đường huyền thoại mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh để nối liền hậu phương và tiền tuyến. 60 năm đã đi qua, thiên hùng ca trên biển đã và đang được viết tiếp như thế nào, mời quý vị theo dõi kì 2 của loạt bài mang tên “60 năm thiên hùng ca trên biển”.
(Còn tiếp)



