Trình bày Tờ trình của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho biết, dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (sửa đổi) gồm 5 chương, 28 điều.
Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước có một số điểm mới:
Mở rộng cho phép soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước trên mạng máy tính là mạng LAN độc lập, được thiết lập trong phạm vi trụ sở cơ quan, tổ chức, không phải mã hóa bằng mật mã cơ yếu, nhằm tháo gỡ triệt để vướng mắc tại Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 và đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số quốc gia.
Bổ sung quy định nghiêm cấm đối với hành vi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để xâm phạm bí mật nhà nước.
Bổ sung thẩm quyền, trách nhiệm trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước đối với chính quyền cấp xã và một số cơ quan ở trung ương, tổ chức theo mô hình khu vực.
Bổ sung hoàn thiện các quy định về xử lý văn bản chứa nội dung bí mật nhà nước trên môi trường điện tử.
Bãi bỏ một số quy định, thủ tục hành chính trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị địa phương liên quan đến hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước.
“Về phân cấp, phân quyền, theo Bộ trưởng Bộ Công an, Dự thảo Luật đã quy định nhằm phân cấp triệt để cho Ban, Bộ, ngành và cấp tỉnh, cấp xã, đặc biệt là cấp xã, khu vực trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước, nhằm tăng thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, địa phương trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước” – Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết.
Thẩm tra dự án Luật bảo vệ bí mật nhà nước (sửa đổi), Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, Thượng tướng Lê Tấn Tới cho biết, Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cơ bản nhất trí với các nội dung của dự thảo Luật, trong đó đa số nội dung được kế thừa từ quy định còn phù hợp của Luật hiện hành; có điều chỉnh, bổ sung một số nội dung nhằm thể chế chủ trương, chỉ đạo của Đảng, khắc phục những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cho biết Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đề xuất nhiều nội dung nhằm hoàn thiện dự án Luật.
Về các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 5, có ý kiến đề nghị bổ sung hành vi bị nghiêm cấm là: “Xác định bí mật nhà nước đối với thông tin không thuộc danh mục bí mật nhà nước, xác định độ mật không đúng quy định”; đồng thời, đề nghị tại khoản 9 cần phải loại trừ mạng LAN độc lập.
Về phạm vi bí mật nhà nước quy định: Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại nhận định do một số thông tin tại Điều này còn quy định chung chung nên đề nghị quy định cụ thể hơn để làm cơ sở xây dựng danh mục bí mật nhà nước và đảm bảo tính khả thi.
Về nội dung xác định bí mật nhà nước, xác định độ mật, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước: Đề nghị bổ sung các quy định về: Trách nhiệm rà soát của chủ thể tiếp nhận tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; tiêu chí để quyết định gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước và mức tối đa về thời gian gia hạn; quy trình xác định và đóng dấu độ mật cho văn bản điện tử bí mật nhà nước.
Về sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước tại Điều 11, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại đề nghị phân cấp thẩm quyền cho cấp phó (không cần ủy quyền) để tránh làm phát sinh thêm thủ tục hành chính nội bộ, bảo đảm chủ trương phân cấp, phân quyền.
Về mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ quy định tại Điều 14, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại cho rằng việc bỏ quy định phê duyệt khi mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ sẽ có thể tạo ra sơ hở trong quản lý, bảo vệ bí mật nhà nước vì thiếu sự phê duyệt, kiểm soát, theo dõi chặt chẽ như hiện nay.
Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại, Thượng tướng Lê Tấn Tới đề nghị bổ sung các quy định có liên quan đến việc xác định, bảo vệ bí mật nhà nước trong bối cảnh phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số hiện nay, như bổ sung quy định về “công nghệ bảo vệ”; trách nhiệm quản lý sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo an toàn trong bảo vệ bí mật nhà nước.



