Nghị định quy định nhiều nhóm hành vi vi phạm, gồm: chào bán, phát hành tài sản mã hóa; tổ chức thị trường giao dịch; cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa; giao dịch tài sản mã hóa; chuyển tiền của nhà đầu tư nước ngoài; cản trở thanh tra, kiểm tra; thu thập, mua bán trái phép dữ liệu tài khoản tài sản mã hóa; vi phạm quy định về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.
Mức phạt đến 200 triệu đồng
Đối với hành vi chào bán, phát hành tài sản mã hóa, tổ chức vi phạm quy định về sở hữu nước ngoài đối với tài sản làm cơ sở phát hành bị phạt từ 70 - 100 triệu đồng.
Mức phạt 100 - 150 triệu đồng áp dụng với tổ chức cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ hoặc gây hiểu nhầm cho cơ quan quản lý và nhà đầu tư.
Tổ chức có thể bị phạt từ 150 - 200 triệu đồng nếu chào bán, phát hành tài sản mã hóa không đủ điều kiện; bán sai đối tượng; không công bố bản cáo bạch hoặc không thực hiện đúng nội dung đã công bố.
Trong lĩnh vực tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, hành vi cung cấp dịch vụ hoặc quảng cáo, tiếp thị khi chưa được cấp phép cũng bị phạt từ 180 - 200 triệu đồng.
Nhà đầu tư giao dịch sai quy định cũng bị xử phạt
Theo Nghị định, nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa không thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ được cấp phép sẽ bị phạt từ 30 - 50 triệu đồng.
Trường hợp nhà đầu tư trong nước giao dịch tài sản mã hóa chỉ được phép chào bán cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ bị phạt từ 70 - 100 triệu đồng.
Bên cạnh đó, tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không thực hiện xác minh danh tính khách hàng khi mở tài khoản bị phạt từ 50 - 70 triệu đồng.
Đặc biệt, hành vi thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, tặng cho hoặc công khai trái phép dữ liệu, thông tin tài khoản tài sản mã hóa sẽ bị xử phạt ở mức cao nhất, từ 150 - 200 triệu đồng.
Nghị định số 284/2026 có hiệu lực từ ngày 1/9/2026 và được áp dụng đến khi Nghị quyết số 05/2025 hết hiệu lực.

