Giá cà phê hôm nay cao nhất tại tỉnh Đắk Lắk là 33.400 đồng/kg, giá thấp nhất tại tỉnh Lâm Đồng là 31.800 đồng/kg.
Cụ thể, mở cửa phiên giao dịch hôm nay giá cà phê tại Lâm Đồng ổn định, ở huyện Bảo Lộc giá cà phê ở mức 31.900 đồng/kg, Riêng giá cà phê tại Lâm Hà và Di Linh về mức 31.800đồng/kg.
Song song đó, giá cà phê tại Đắk Lắk giảm 100 đồng/kg, ở huyện Cư M'gar giá cà phê trong ngưỡng 33.400 đồng/kg và tại Buôn Hồ giá cà phê dao động trong mức 33.200 đồng/kg.
Giá cà phê tại Gia Lai ổn định ở mức 33.200 đồng/kg.
Giá cà phê tại Đắk Nông đi ngang ở mức 33.200 đồng/kg.
Giá cà phê tại Kon Tum giảm 100 đồng về mức 33.400 đồng/kg.
Giá cà phê giao tại cảng TP HCM đi ngang ở ngưỡng 34.700đồng/kg.
Tỉnh |
Giá thu mua |
Thay đổi |
LÂM ĐỒNG |
||
— Bảo Lộc (Robusta) |
31,900 |
0 |
— Di Linh (Robusta) |
31,800 |
0 |
— Lâm Hà (Robusta) |
31,800 |
0 |
ĐẮK LẮK |
||
— Cư M'gar (Robusta) |
33,400 |
-100 |
— Buôn Hồ (Robusta) |
33,200 |
-100 |
GIA LAI |
||
— Ia Grai (Robusta) |
33,200 |
0 |
ĐẮK NÔNG |
||
— Gia Nghĩa (Robusta) |
33.200 |
0 |
KON TUM |
||
— Đắk Hà (Robusta) |
33.400 |
-100 |
HỒ CHÍ MINH |
||
— R1 |
34,700 |
0 |
Ảnh minh họa: internet
Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo giá cà phê sẽ còn trì trệ cho tới cuối năm nay do Việt Nam vào vụ thu hoạch mới, trong khi tồn kho cà phê Brazil vụ mùa năm ngoái lẫn năm nay vẫn còn dồi dào và người Brazil vẫn bán mạnh do tỷ giá đồng Reais giảm thấp ở mức đang có lợi cho họ.
Xuất khẩu cà phê tháng 10 năm 2019 ước đạt 87 nghìn tấn với giá trị đạt 158 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 10 tháng đầu năm 2019 ước đạt 1,35 triệu tấn và 2,33 tỷ USD, giảm 14,6% về khối lượng và giảm 22,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018.
Giá cà phê xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm 2019 đạt 1.717 USD/tấn, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm 2018.
Đức và Mỹ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2019 với thị phần lần lượt là 13,3% và 8,6%. Chín tháng đầu năm 2019, ngoại trừ hai thị trường Philippines có giá trị xuất khẩu cà phê tăng 15%, hầu hết các thị trường chính đều giảm so với cùng kỳ năm 2018.
Giá cà phê thế giới giảm
Trên thị trường thế giới, 9h00 ngày 13/11/2019 giá cà phê robusta giao tháng 1/2020 trên sàn Robusta (ICE Futures Europe) giảm 4 USD/tấn, tương đương 0,29 %, về mức 1.371USD/tấn, giá cà phê giao tháng 03/2020 giảm 3 USD/tấn, tương đương 0,22%, về mức 1.392 USD/tấn, giá cà phê giao tháng 05/2020 giảm 3 USD/tấn, tương đương 0,21%, về mức 1.411USD/tấn, giá cà phê giao tháng 07/2020 giảm 3 USD/tấn, tương đương 0,21% về mức 1.431USD/tấn.
Giá cà phê arabica giao tháng 12/2018 trên sàn (ICE Futures US) 9h00 ngày 13/11/2019, giảm 0,40 USD/tấn, tương đương 0,38% về mức 1.056USD/tấn, giá giao tháng 3/2020 giảm 0,55USD/tấn, tương đương 0,5% về mức 1.089USD/tấn, giá giao tháng 5/2020 giảm 0,50USD/tấn, tương đương 0,45%, về mức 1.112USD/tấn, giá giao tháng 7/202 giảm 0,50USD/tấn, tương đương 0,44%, về mức 1.134USD/tấn.
Giá cà phê Robusta (ICE Futures Europe)
Kỳ hạn |
Giá khớp |
Thay đổi |
% |
Số lượng |
Cao nhất |
Thấp nhất |
Mở cửa |
Hôm trước |
HĐ Mở |
1/20 |
1371 |
-4 |
-0.29 |
10193 |
1384 |
1367 |
1370 |
1375 |
53923 |
03/20 |
1392 |
-3 |
-0.22 |
5836 |
1403 |
1388 |
1391 |
1395 |
31529 |
05/20 |
1411 |
-3 |
-0.21 |
2550 |
1423 |
1407 |
1410 |
1414 |
17639 |
07/20 |
1431 |
-3 |
-0.21 |
350 |
1443 |
1430 |
1430 |
1434 |
13047 |
Giá cà phê Arabica (ICE Futures US)
Kỳ hạn |
Giá khớp |
Thay đổi |
% |
Số lượng |
Cao nhất |
Thấp nhất |
Mở cửa |
Hôm trước |
HĐ Mở |
12/19 |
105.60 |
-0.40 |
-0.38 |
30605 |
107.45 |
104.80 |
106.15 |
106 |
53240 |
03/20 |
108.90 |
-0.55 |
-0.5 |
44172 |
110.80 |
108.15 |
109.85 |
109.45 |
110963 |
05/20 |
111.25 |
-0.50 |
-0.45 |
13964 |
113.10 |
110.45 |
111.95 |
111.75 |
50313 |
07/20 |
113.45 |
-0.50 |
-0.44 |
6442 |
115.20 |
112.65 |
114.35 |
113.95 |
31717 |
Indonesia tăng sản lượng cà phê trong bối cảnh nguồn cung thế giới dư thừa
Nhà sản xuất cà phê robusta thứ ba thế giới, Indonesia, đang tìm cách tăng sản lượng tại thời điểm sản xuất tăng vọt và giá cả giảm mạnh.
Nông dân Indonesia dự kiến sẽ thu hoạch thêm 50 - 60% cà phê trong vòng 5 năm tới, theo ông Pranoto Soenarto, phó chủ tịch Hiệp hội ngành hàng và các nhà xuất khẩu cà phê Indonesia, cho biết.
Sự gia tăng nguồn cung từ quốc gia Đông Nam Á này có thể gây áp lực cho hợp đồng tương lai cà phê robusta đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2008, khi giao dịch bắt đầu, theo The Business Times.
Indonesia, quốc gia đã từng là nhà sản xuất cà phê arabica lớn nhất, cũng sẽ cạnh tranh với các nhà sản xuất từ Việt Nam và Brazil.
Mặc dù giá cà phê robusta giao dịch tại London đã tăng 2%, đóng cửa ở mức 1.251 USD/tấn vào ngày 18/10, nhưng đã giảm hơn 27% trong năm qua.
Cà phê robusta của Peatland Coffee chiếm khoảng 72% tổng sản lượng của Indonesia, trong khi cà phê arabica chiếm khoảng 18% và phần còn lại là cà phê liberica và excelsa.
Khoảng 2 triệu nông dân Indonesia đang tham gia trồng cà phê trong nước. Diện tích trồng ước tính khoảng 1,2 triệu ha. Tổng sản lượng năm nay ước tính đạt khoảng 700.000 tấn.
Hiệp hội cà phê hi vọng nhu cầu ở nước ngoài sẽ tăng lên, đặc biệt là ở Trung Quốc, nơi lối sống phương Tây của những người trẻ tuổi tạo nên văn hóa cà phê trong nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này, ông Pranoto cho biết.
Tiêu thụ cà phê của Trung Quốc đã tăng hơn 9 lần trong thập kỉ qua lên 189.300 tấn trong niên vụ 2018 - 2019, theo dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ.