028.38225933 (Hotline) - 028 3822 1188 (FM 95.6) - 028 38291 357
Điện thoại: 028.38225933 - 028.38225934
Đường dây nóng bạn nghe đài: 028.3891 357 - 0948747571
Sự kiện:  Tin Thị trường

Giá cà phê hôm nay 7/1/2020:  Giảm mạnh 700 đồng/kg tại cảng TP.HCM

(VOH) - Giá cà phê ngày 7/1 đồng loạt giảm 300-400 đồng/kg tại hầu hết các địa phương vùng trồng cà phê trọng điểm Tây Nguyên và Miền Nam. Riêng tại Cảng TPHCM, giá giảm đến 700 đồng/kg.

Giá cà phê hôm nay cao nhất tại tỉnh Đắk Lắk là 32.700 đồng/kg, giá thấp nhất tại tỉnh Lâm Đồng là 31.800 đồng/kg.

Cụ thể, mở cửa phiên giao dịch hôm nay giá cà phê tại Lâm Đồng ổn định, tại Bảo Lộc, Lâm Hà dao động ở mức 31.900 đồng/kg, tại Di Linh là 31.800 đồng/kg.

Song song đó, giá cà phê tại Đắk Lắk, tại Cư M'gar giá cà phê ở ngưỡng 32.700 đồng/kg và tại Buôn Hồ giảm 100 đồng/kg về mức 32.500 đồng/kg.

Giá cà phê tại Gia Lai không đổi, ở Ia Grai dao động trong mức 32.300 đồng/kg và Pleiku ở ngưỡng 32.200 đồng/kg.

Giá cà phê tại Đắk Nông  ổn định ở mức 32.300 đồng/kg.

Giá cà phê tại Kon Tum đi ngang ở mức 32.300 đồng/kg.

Giá cà phê giao tại cảng TP HCM  ổn định ở ngưỡng 34.100đồng/kg.

Tỉnh
/huyện (khu vực khảo sát)

Giá thu mua
Đơn vị: VNĐ/kg

Thay đổi

LÂM ĐỒNG

 

 

— Bảo Lộc (Robusta)

31,500

-400

— Lâm Hà (Robusta)

31,500

-400

— Di Linh (Robusta)

31,400

-400

ĐẮK LẮK

 

 

— Cư M'gar (Robusta)

32,300

-400

— Buôn Hồ (Robusta)

32,100

-400

GIA LAI

 

 

— Pleiku (Robusta)

31,800

-400

_ Ia Grai (Robusta)

31.900

-400

ĐẮK NÔNG

 

 

— Gia Nghĩa (Robusta)

31.900

-400

KON TUM

 

 

— Đắk Hà (Robusta)

32.000

-300

HỒ CHÍ MINH

 

 

— R1

33,400

-700

Giá cà phê hôm nay 7/1/2020

Ảnh minh họa: internet

Giá cà phê arabica trong năm 2020 được dự báo sẽ phục hồi do xuất khẩu cà phê toàn cầu giảm, trong khi nhu cầu tăng.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, tháng 12/2019, giá cà phê robusta trong nước giảm theo giá thế giới.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê robusta tháng 11/2019 đạt 94,5 nghìn tấn, trị giá 142,49 triệu USD, giảm 20,9% về lượng và giảm 29,6% về trị giá so với tháng 11/2018. Tính chung 11 tháng năm 2019, xuất khẩu cà phê robusta giảm 6,4% về lượng và giảm 18,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, đạt 1,376 triệu tấn, trị giá 2,081 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu cà phê robusta sang Mỹ, Nhật Bản, Bỉ, Algérie, Anh, Ấn Độ tăng; xuất khẩu sang Đức, Ý, Tây Ban Nha, Nga, Hàn Quốc giảm.

Giá xuất khẩu bình quân cà phê robusta trong 11 tháng năm 2019 đạt 1.512 USD/tấn, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, giá xuất khẩu bình quân cà phê robusta sang các thị trường trọng điểm như Mỹ đạt 1.476 USD/tấn; Đức đạt 1.482 USD/ tấn; Ý đạt mức 1.555 USD/tấn.

11 tháng năm 2019, xuất khẩu cà phê chế biến tăng 1% về lượng, nhưng giảm 0,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, đạt 34,9 nghìn tấn, trị giá 175,4 triệu USD. Trong đó, xuất khẩu cà phê chế biến sang Nga tăng 57,6%; Trung Quốc tăng 104,4%; Mỹ tăng 9,2%; Ý tăng 24,1%. Ngược lại, xuất khẩu cà phê chế biến sang Nhật Bản, ASEAN giảm.

Hiện các sản phẩm cà phê của Việt Nam xuất khẩu đến hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 14,2% thị phần xuất khẩu cà phê toàn cầu, đứng ở vị trí thứ 2 sau Brasil. Trong đó, cà phê rang xay và cà phê hòa tan xuất khẩu chiếm 5,9% thị phần, đứng ở vị trí thứ 5 sau Brasil, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.

Hiện cả nước đã có 97 cơ sở chế biến cà phê nhân, tổng công suất thiết kế 1.503 triệu tấn, tổng công suất thực tế đạt 83,6%; 160 cơ sở chế biến cà phê rang xay, tổng công suất thiết kế 51,7 nghìn tấn sản phẩm/năm; 8 cơ sở chế biến cà phê hòa tan, tổng công suất thiết kế 36,5 nghìn tấn sản phẩm/năm, tổng công suất thực tế đạt 97,9%; 11 cơ sở chế biến cà phê phối trộn, tổng công suất thiết kế 139,9 nghìn tấn sản phẩm/năm, tổng công suất thực tế đạt 81,6%.

Trên thị trường thế giới, tháng 12/2019, giá cà phê robusta giao kỳ hạn trên thị trường thế giới giảm so với tháng 11/2019, trong khi giá cà phê arabica tăng.

Trong tuần cuối tháng 12/2019, thị trường cà phê giao dịch trầm lắng do các nhà nhập khẩu nước ngoài đang trong kỳ nghỉ lễ cuối năm và chuẩn bị choTết Dương lịch 2020. Giá cà phê robusta giảm do các quỹ tài chính bán bớt hợp đồng mua. Trong báo cáo tháng 12/2019, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã thay đổi sản lượng cà phê toàn cầu từ thiếu hụt sang dư thừa, do sản lượng cà phê robusta của Brasil tăng mạnh, bù đắp cho sản lượng cà phê arabica giảm vì chu kỳ “hai năm một”. Sản lượng cà phê robusta Brasil được dự báo tăng 1,5 triệu bao, đạt mức cao kỷ lục 18,1 triệu bao trong niên vụ 2019/20. Trong khi đó, nguồn cung cà phê ở Việt Nam dồi dào do người trồng cà phê đã thu hoạch được khoảng 60 - 70% sản lượng. Dự kiến vụ thu hoạch tại Việt Nam sẽ kéo dài tới cuối tháng 1/2020, đạt khoảng 29,5 triệu bao (loại 60 kg), tương đương với niên vụ 2018/19.

Cục Xuất nhập khẩu dự báo năm 2020, giá cà phê arabica sẽ phục hồi do xuất khẩu cà phê toàn cầu giảm, trong khi nhu cầu tăng. Theo USDA, niên vụ 2019/20, xuất khẩu cà phê toàn cầu dự kiến giảm 4,7 triệu bao, xuống còn 115,4 triệu bao do Brasil và Honduras giảm xuất khẩu; tiêu thụ cà phê toàn cầu niên vụ 2019/20 dự báo tăng 1,5% so với niên vụ 2018/19, lên 167,9 triệu bao. Trong đó, Trung Quốc sẽ là nước tiêu thụ cà phê chính trong năm 2020.

Trong tháng 12, giá cà phê thế giới có xu hướng tăng nhẹ. Chỉ số giá cà phê tổng hợp ICO tăng lên xấp xỉ 2.559,35 USD/tấn từ 2.491,88 USD/tấn vào đầu tháng. Tuy vậy, các chỉ số giá hợp phần biến động trái chiều.

Giá cà phê thế giới giảm hơn 3%

Giá cà phê Robusta (ICE Futures Europe)

Kỳ hạn

Giá khớp

Thay đổi

%

Số lượng

Cao nhất

Thấp nhất

Mở cửa

Hôm trước

HĐ Mở

01/20

1352

-20

-1.46

7110

1374

1341

1370

1372

44365

03/20

1371

-20

-1.44

2934

1392

1360

1390

1391

29522

05/20

1390

-20

-1.42

944

1413

1380

1413

1410

15551

07/20

1409

-19

-1.33

211

1430

1399

1430

1428

7181

Giá cà phê Arabica (ICE Futures US)

Kỳ hạn

Giá khớp

Thay đổi

%

Số lượng

Cao nhất

Thấp nhất

Mở cửa

Hôm trước

HĐ Mở

03/19

122.15

-4.20

-3.32

24428

126.55

121.55

126.25

126.35

110943

05/20

124.50

-4.15

-3.23

10738

128.80

123.85

128.50

128.65

61915

07/20

126.65

-4.10

-3.14

6761

130.95

126

130.45

130.75

37956

09/20

128.65

-4.00

-3.02

4510

132.90

128.05

132.70

132.65

24508

Giá cà phê robusta giao trong tháng 3/2020 giảm 1,6% xuống 1.352 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 3/2020 giảm 3% xuống 122,5 UScent/pound.

Theo số liệu thống kê từ Ủy ban Thương mại Quốc tế (ITC), nhập khẩu cà phê của Tây Ban Nha trong 10 tháng năm 2019 đạt 291 nghìn tấn, trị giá 799,98 triệu USD, giảm 9,4% về lượng và giảm 13,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

10 tháng năm 2019, Tây Ban Nha nhập khẩu chủ yếu chủng loại cà phê chưa rang, chưa khử caffein (HS 0901.11), đạt 483,29 triệu USD, giảm 7,4% so với 10 tháng năm 2018. Tỷ trọng cà phê chưa rang, chưa khử caffein chiếm 60,4% trong tổng trị giá nhập khẩu của Tây Ban Nha trong 10 tháng năm 2019, tăng so với 59,1% trong 10 tháng năm 2018.

Trong khi đó, nhập khẩu chủng loại cà phê rang, chưa khử caffein (HS 0901.21) của Tây Ban Nha đạt 218,86 triệu USD, giảm 14,7% so với 10 tháng năm 2018.

Tỉ trọng cà phê rang, chưa khử caffein chiếm 27,4% trong tổng trị giá nhập khẩu của Tây Ban Nha trong 10 tháng năm 2019, thấp hơn so với 29,1% trong 10 tháng năm 2018.

Giá nhập khẩu bình quân cà phê của Tây Ban Nha trong 10 tháng năm 2019 đạt mức 2.749 USD/tấn, giảm 13,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó, giá nhập khẩu bình quân cà phê từ Việt Nam đạt mức 1.735 USD/tấn; từ Brazil đạt 2.258 USD/tấn; từ Đức đạt 2.206 USD/tấn. Đáng

chú ý, giá nhập khẩu bình quân cà phê của Tây Ban Nha từ một số thị trường ở mức cao, như: Colombia đạt 3.254 USD/tấn; Pháp đạt 19.938 USD/tấn.

Hiện Tây Ban Nha nhập khẩu chủ yếu chủng loại cà phê đã qua chế biến từ Pháp nên giá thành sản phẩm ở mức cao.

Giá cà phê hôm nay 6/1/2020: Giảm 100 đồng/kg tại Buôn Hồ, Đắk Lắk- Giá cà phê ngày 6/1 đi ngang tại hầu hết các địa phương vùng trồng cà phê trọng điểm Tây Nguyên và Miền Nam. Riêng tại Buôn Hồ, Đắk Lắk giảm 100 đồng/kg. Giá cà phê thế giới đi ngang. 
Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 7/1/2020: Đô la Mỹ, Yên Nhật ít thay đổi trước những căng thẳng ở Trung Đông – Đồng Đô la Mỹ và đồng Yên Nhật ít thay đổi trong phiên giao dịch hôm thứ Hai tại châu Á sau khi tăng trước đó trong ngày với những căng thẳng ở Trung Đông.