028.38225933 (Hotline) - 028 3822 1188 (FM 95.6) - 028 38291 357
icon-radio-fm-999-mhz
logo-voh-radio-online
Điện thoại: 028.38225933 - 028.38225934
Đường dây nóng bạn nghe đài: 028.3891 357 - 0948747571

Giá sắt thép xây dựng hôm nay 30/11: Tiếp đà tăng, quặng sắt vọt cao nhất trong 23 tuần

(VOH)-Giá thép ngày 30/11 tăng trên Sàn giao dịch Thượng Hải. Quặng sắt chuẩn trên Sàn giao dịch Đại Liên đã đạt mức cao nhất theo ghi nhận trong 23 tuần.

Giá sắt thép xây dựng tăng trên Sàn giao dịch Thượng Hải

Giá thép ngày 30/11 giao tháng 5/2023 trên Sàn giao dịch Thượng Hải tăng 2 nhân dân tệ lên mức 3.736 nhân dân tệ/tấn tại thời điểm khảo sát vào lúc 9h50 (giờ Việt Nam).

Bảng giá giao dịch tương lai của một số kim loại trên Sàn Thượng Hải (Đơn vị: nhân dân tệ/tấn)

Giá sắt thép xây dựng hôm nay 30/11: Tiếp đà tăng, quặng sắt vọt cao nhất trong 23 tuần 1

Vào hôm thứ Ba (29/11), giá quặng sắt kỳ hạn gia tăng với giá chuẩn trên Sàn giao dịch Đại Liên (DCE) đạt mức cao nhất trong 23 tuần, Reuters đưa tin.

Nguyên nhân là do được thúc đẩy bởi các động thái của Trung Quốc nhằm tăng cường hỗ trợ cho các nhà phát triển bất động sản đang gặp khó khăn.

Cụ thể, giá quặng sắt DCIOcv1 giao tháng 1/2023 trên Sàn DCE đã kết thúc giao dịch ban ngày cao hơn 2,3% ở mức 770,5 nhân dân tệ/tấn (tương đương 107,45 USD/tấn).

Trước đó trong phiên, hợp đồng này đã tăng vọt lên 780,5 nhân dân tệ/tấn. Đây là mức cao nhất theo ghi nhận kể từ giữa tháng 6.

Xuất phát từ lo ngại nhu cầu của Trung Quốc sẽ tiếp tục yếu trong bối cảnh hạn chế COVID-19 nghiêm ngặt và khủng hoảng thanh khoản trong ngành bất động sản, giá quặng sắt DCE đã tăng hơn 25% trong tháng này sau đợt bán tháo vào tháng 10

Cơ quan quản lý chứng khoán của Trung Quốc sẽ cho phép các nhà phát triển Trung Quốc niêm yết ở Hong Kong và Trung Quốc bán thêm cổ phiếu để mua tài sản bất động sản, bổ sung vốn lưu động hoặc trả nợ; đồng thời dỡ bỏ lệnh cấm tái cấp vốn để giúp ổn định nền kinh tế.

Đây là biện pháp mới nhất trong một loạt các bước được thực hiện để củng cố lĩnh vực bất động sản, chẳng hạn như trước đó là 16 bước được các nhà quản lý vạch ra để hỗ trợ ngành và khoản hỗ trợ gây quỹ từ những ngân hàng lớn nhất Trung Quốc.

Giá thép trong nước ổn định

Giá thép ngày 24/11 ghi nhận giá thép trong nước không có biến động từ 12/10. Trước ngày 12/10, giá thép đã biến động 3 lần chỉ trong khoảng thời gian ngắn.

Giá thép tại miền Nam

Thép Hòa Phát không có biến động, dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.360 đồng/kg; trong khi đó, thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.570 đồng/kg.

Thép Pomina, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 15.580 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.680 đồng/kg.

Thép VAS, dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; còn với thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.410 đồng/kg.

Giá thép tại miền Bắc

Theo SteelOnline.vn, thương hiệu thép Hòa Phát ổn định từ ngày 12/10 tới nay, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.500 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.600 đồng/kg.

Thương hiệu thép Việt Ý tiếp đà đi ngang 23 ngày liên tiếp, hiện thép cuộn CB240 ở mức 14.510 đồng/kg; dòng thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.720 đồng/kg.

Giá thép hôm nay (3/11) tiếp tục bình ổn với thị trường trong nước; Tập đoàn thép Nippon của Nhật Bản đã nâng dự báo lợi nhuận ròng cả năm lên 12%. Ảnh: luxtimes

Giá thép hôm nay (3/11) tiếp tục bình ổn với thị trường trong nước; Tập đoàn thép Nippon của Nhật Bản đã nâng dự báo lợi nhuận ròng cả năm lên 12%. Ảnh: luxtimes

Thép Việt Đức giữ nguyên giá bán so với ngày hôm qua, với 2 dòng sản phẩm của hãng gồm dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.350 đồng/kg; còn thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.660 đồng/kg.

Thương hiệu thép VAS, với 2 sản phẩm của hãng gồm thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; dòng thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.410 đồng/kg.

Thép Việt Sing không có thay đổi, hiện thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.510 đồng/kg.

Thép Việt Nhật, với dòng thép cuộn CB240 có giá 14.310 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 14.510 đồng/kg.

Giá thép tại miền Trung

Thép Hòa Phát duy trì bình ổn, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.820 đồng/kg.

Thép Việt Đức, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.620 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg.

Thép VAS, với thép cuộn CB240 ở mức 14.260 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.360 đồng/kg.

Thép Pomina, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 15.730 đồng/kg; dòng thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.940 đồng/kg.

Thị trường thép tháng 10/2022 với triển vọng kém săc trong những tháng cuối năm

Trong 10 tháng đầu năm, kinh tế toàn cầu tiếp tục khó khăn khi lạm phát tăng cao, các ngành công nghiệp sử dụng thép ghi nhận tăng trưởng chậm lại. Theo số liệu của Hiệp hội Thép Thế giới (Worldsteel), sản lượng thép thô thế giới của 64 quốc gia đạt 151,7 triệu tấn trong tháng 9, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước. 

Giá nguyên vật liệu sản xuất thép biến động mạnh, cụ thể giá các loại quặng sắt, thép phế, than cốc hồi đầu quý II và quý III đến nay liên tục giảm, với mức giảm 50-60% so với hồi quý I, các doanh nghiệp sản xuất thép bị ảnh hưởng rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn, hiệu quả thấp.

Hiệp hội Thép Thế giới đã điều chỉnh dự báo về nhu cầu thép toàn cầu, thay vì tăng 0,4% sẽ giảm 2,3% trong năm nay. Môi trường kinh tế toàn cầu đã xấu đi đáng kể, do lạm phát cao và các động thái tăng lãi suất, song song đó là sự suy thoái của Trung Quốc do chính sách Zero COVID và sự yếu kém của lĩnh vực bất động sản.

Tại Việt Nam, trong tháng 10, sản xuất thép thô đạt 1.375.338 tấn, giảm 14,2% so với tháng trước, và giảm 27,2% so với cùng kỳ năm 2021. Tiêu thụ thép thô đạt 1.161.376 tấn, giảm 21,3% so với tháng trước, và giảm 41,7% so với tháng 10/2021.

Đối với thép xây dựng, tình hình sản xuất thép xây dựng trong tháng 10 có sự sụt giảm mạnh so với tháng trước và cùng kỳ 2021. Về giá thép, giá phôi nội địa giảm khoảng 500 đồng/kg đến 700 đồng/kg giữ giá ở mức 12.200 đồng/kg đến 12.500 đồng/kg cuối tháng 10 năm 2022. Giá bán thép xây dựng trong nước kể từ đầu tháng 10/2022 hiện ở mức bình quân khoảng 14.300-15.150 đồng/kg (chưa bao gồm VAT) tùy thuộc từng chủng loại sản phẩm và từng doanh nghiệp và vùng miền.

Dự báo với các sức ép từ hai phía cung – cầu cả trong và ngoài nước, thị trường quặng sắt và thị trường thép khó có thể khởi sắc hơn trong thời gian còn lại của năm nay.