Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, trường đại học và viện nghiên cứu không còn đơn thuần là nơi đào tạo, lưu trữ tri thức, mà đã trở thành những “chiếc nôi” của đổi mới sáng tạo, sản sinh ra các giải pháp công nghệ mang tính đột phá.
Tuy nhiên, một ý tưởng hay, một nghiên cứu thành công trong phòng thí nghiệm sẽ mãi chỉ nằm trên giấy nếu thiếu đi chiếc cầu nối đưa chúng vào đời sống thực tiễn. Chiếc cầu nối chiến lược đó chính là hoạt động bảo hộ và thương mại hóa sáng chế.
Chia sẻ kinh nghiệm nhận diện tài sản trí tuệ trong hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu – phát triển sản phẩm, ông Nghiêm Biên, Trưởng Bộ phận Sở hữu trí tuệ BOSCH Global Software Technologies cho biết, các loại tài sản trí tuệ bao gồm: sáng chế, bí mật kinh doanh, quyền tác giả và quyền liên quan, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu/tên thương mại, thiết kế bố trí mạch tích hợp, giống cây trồng, chỉ dẫn địa lý.
Theo ông, chuyên gia sở hữu trí tuệ nên tham gia từ lúc bắt đầu triển khai đề tài nghiên cứu, cung cấp thông tin, phân tích và báo cáo về xu hướng công nghệ, các khoảng trống kỹ thuật, định hướng các nội dung đề tài nghiên cứu, sản phẩm.
“Quản trị ở đây không chỉ là quản trị về mặt tài liệu, mà còn quản trị về mặt chiến lược để phát triển tài sản trí tuệ, từ việc tìm kiếm, xác lập quyền và theo đuổi, duy trì các quyền đó, chẳng hạn như đăng ký sáng chế và theo đuổi đơn đăng ký sáng chế và tiến hành các hoạt động định giá, thương mại hóa, thì hiện nay chúng ta chưa có cơ chế đó. Luôn luôn có những khoảng trống, chưa có một cơ chế tập trung. Các nhà nghiên cứu thì họ có nghiên cứu của họ, nhưng về mặt kỹ thuật thì những người làm về sở hữu trí tuệ sẽ có chuyên môn riêng. Khi mà chúng ta mà không có việc quản trị, không biết nó là cái gì, nó như thế nào, bảo hộ ra làm sao, mình có quyền đối với nó hay không, thì làm sao thương mại hóa được?”, ông Nghiêm Biên đặt vấn đề.
Tri thức nhiều, tài sản ít cũng là vấn đề mà Đại học Quốc gia TPHCM đang đối mặt, với nghịch lý lớn trong hoạt động nghiên cứu khi có hơn 500 nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ mỗi năm, nhưng chỉ có khoảng 40 đơn sáng chế/năm. Bản chất vấn đề là không thiếu tri thức, không thiếu nghiên cứu, mà điểm thiếu hụt nằm ở cơ chế chuyển hóa, quản trị và khai thác tài sản trí tuệ.
PGS. TS Trần Văn Mẫn, Trưởng phòng Khoa học công nghệ, Trường Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM nêu thực tế: “Phần định giá vẫn là phần khó, dẫn tới đẩy rủi ro trách nhiệm cho những người đứng đầu trường, viện và người phải ký quyết định cuối cùng rằng sáng chế này chuyển giao với giá bao nhiêu. Do đó cũng rất mong sắp tới những vướng mắc này được các bộ, ban ngành làm rõ hơn. Đặc biệt khi chúng ta sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước thì sẽ tạo ra một tâm lý e ngại cho các cấp quản lý trong việc này. Đây là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay trong việc đẩy nghiên cứu ra để thương mại hóa.”
“Thương mại hóa sáng chế” không đơn thuần là một chuỗi các giao dịch thương mại mua – bán giải pháp kỹ thuật, mà là quá trình dịch chuyển tri thức mang tính hệ thống nhằm biến các tài sản trí tuệ thành các giá trị (kinh tế, xã hội) cụ thể trên thị trường. Để đưa một sáng chế từ phòng thí nghiệm ra thị trường một cách hiệu quả, tổ chức cần thực hiện quy trình thẩm tra thương mại hóa để rà soát quy mô thị trường, đối thủ cạnh tranh, khả năng khai thác và rủi ro pháp lý. Đồng thời, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò như một tấm khiên pháp lý, không chỉ khẳng định quyền làm chủ, tôn vinh công sức của các nhà khoa học, mà còn tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để thu hút các nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp.
PGS.TS Từ Diệp Công Thành, Trung tâm Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ Đại học Quốc gia TPHCM cũng cho rằng: “Hiện nay các thầy cô chưa gắn nhiều với thương mại hóa. Điểm xuất phát đầu tiên là phải giải quyết bài toán của thương mại, hay nói khác hơn là các nghiên cứu đều phải gắn với doanh nghiệp hoặc gắn với nhu cầu thực tiễn. Một khi giải được nhu cầu thực tiễn, để đảm bảo quyền sở hữu của mình, thì chúng ta phải đăng ký bảo hộ, rồi mới chia sẻ các kết quả đó cho những bên khác cùng khai thác thương mại. Còn hiện nay, những gì mà chúng ta nghiên cứu không gắn thương mại nhưng chúng ta cố gắng thương mại thì rất khó. Vì vậy lời khuyên của tôi là để giải quyết bài toán thương mại thì chúng ta phải nghiên cứu những vấn đề gắn với thực tiễn.”
Có thể thấy nhà khoa học hiện nay phải tự viết sáng chế, tiếp cận vấn đề theo tư duy học thuật truyền thống thay vì pháp lý, dẫn đến việc thiếu kỹ năng thiết kế chiến lược. Hồ sơ không thể hiện rõ tính mới, dễ bị từ chối hoặc dù được cấp bằng vẫn rất khó để bảo vệ trước đối thủ cạnh tranh. Do đó, giải pháp mà các chuyên gia đưa ra là cần phải chuyên nghiệp hóa hoàn toàn hoạt động xây dựng hồ sơ sáng chế. Nhà khoa học tập trung vào sáng tạo tri thức, trong khi việc xây dựng cấu trúc bảo hộ và theo đuổi pháp lý phải do đội ngũ chuyên nghiệp đảm nhận.
Khi những sáng chế này được thương mại hóa thành công, thông qua chuyển giao công nghệ, cấp phép sử dụng hoặc thành lập các doanh nghiệp khởi nghiệp, chúng sẽ trực tiếp giải quyết các bài toán kinh tế - xã hội, tối ưu hóa nguồn lực nghiên cứu và mang lại nguồn thu tái đầu tư bền vững cho các tổ chức học thuật.



