Tháng 5/2026: Loạt chính sách giáo dục mới đồng loạt áp dụng

Dạy thêm, điều lệ trường học, học bạ số trên VNeID, sách giáo khoa điện tử và chuẩn năng lực giáo viên là những chính sách giáo dục đáng chú ý có hiệu lực từ tháng 5/2026.

Tháng 5/2026 có nhiều chính sách mới trong lĩnh vực giáo dục bắt đầu có hiệu lực, trong đó nổi bật là các quy định sửa đổi về dạy thêm, học thêm và việc tích hợp học bạ, bằng cấp trên ứng dụng VNeID.

Tháng 5-2026 Loạt chính sách giáo dục mới đồng loạt áp dụng – Hình 1

Ảnh minh họa: VTV

Từ 15/5/2026, bổ sung thêm nhiều hoạt động không thuộc phạm vi dạy thêm, học thêm

Thông tư 19/2026 được ban hành ngày 31/3/2026 và có hiệu lực từ ngày 15/5/2026, đã sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư 29/2024 liên quan đến hoạt động dạy thêm, học thêm.

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư 19/2026, khoản 1 Điều 2 Thông tư 29/2024 được sửa đổi theo hướng làm rõ hơn khái niệm dạy thêm, học thêm.

Cụ thể, dạy thêm, học thêm được hiểu là hoạt động dạy học phụ thêm ngoài thời lượng đã quy định trong kế hoạch giáo dục đối với các môn học, hoạt động giáo dục thuộc Chương trình giáo dục phổ thông và chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Điểm đáng chú ý là quy định mới đã làm rõ phạm vi điều chỉnh, theo đó chỉ những hoạt động dạy học phụ thêm gắn trực tiếp với nội dung các môn học trong chương trình chính khóa mới được xác định là dạy thêm, học thêm.

Đồng thời, văn bản này cũng bổ sung quy định về các hoạt động không thuộc phạm vi dạy thêm, học thêm.

Cụ thể, các hoạt động giáo dục như văn hóa, nghệ thuật, thể thao; tăng cường năng lực ngoại ngữ; giáo dục STEM/STEAM; phát triển năng lực số, trí tuệ nhân tạo (AI); giáo dục hướng nghiệp; kỹ năng sống và các nội dung giáo dục khác nhằm phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh nhưng không nằm trong nội dung chương trình các môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh của quy định về dạy thêm, học thêm.

Như vậy, kể từ ngày 15/5/2026, nhiều hoạt động giáo dục ngoài chương trình chính khóa sẽ không còn bị xem là dạy thêm, học thêm, mà được thực hiện theo các quy định pháp luật khác có liên quan.

Từ thời điểm này, giáo viên tham gia dạy thêm phải báo cáo về mối quan hệ với người đứng tên cơ sở dạy thêm; đồng thời, hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra vi phạm về dạy thêm kéo dài từ ngày 15/5/2026.

>> Xem thêm: 7 điểm mới tại Thông tư 19/2026 về dạy thêm, học thêm từ 15/5/2026

Từ 10/5/2026, áp dụng Điều lệ chung đối với trường tiểu học, THCS, THPT và trường nhiều cấp học

Từ ngày 10/5/2026, Thông tư 15/2026 chính thức có hiệu lực, ban hành Điều lệ thống nhất áp dụng cho các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học trên phạm vi toàn quốc.

Điều lệ ban hành kèm theo Thông tư quy định toàn diện về tổ chức, quản lý và hoạt động của nhà trường, bao gồm nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường; hoạt động giáo dục; quyền và nghĩa vụ của giáo viên, nhân sự hỗ trợ giáo dục và học sinh; tài chính, tài sản; cùng mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Theo quy định, trường phổ thông được xác định là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.

Một điểm đáng chú ý là Điều lệ mới trao quyền chủ động cho nhà trường trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế; đồng thời cho phép quyết định phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và triển khai các hoạt động như trải nghiệm, hướng nghiệp, STEM/STEAM, phát triển năng lực số, trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ năng sống theo đúng quy định.

Bên cạnh đó, nhà trường phải tăng cường chuyển đổi số trong công tác quản lý và dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, học liệu số, quản lý và kết nối dữ liệu giáo dục, đồng thời bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin.

Về tổ chức bộ máy, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm toàn diện đối với hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường, thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành và trách nhiệm giải trình theo quy định.

Trong hoạt động giáo dục, việc kiểm tra, đánh giá học sinh phải bảo đảm toàn diện, khách quan, hướng tới sự tiến bộ của học sinh; chú trọng đánh giá quá trình, không so sánh học sinh với nhau và không gây áp lực đối với học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.

Thông tư 15/2026 đồng thời thay thế các quy định trước đây về Điều lệ trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, cũng như các quy định liên quan đến chuyển trường và quy chế xét tốt nghiệp trung học cơ sở, qua đó thống nhất một điều lệ chung cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông.

Từ 15/5/2026, học bạ, bằng cấp sẽ được tích hợp trên VNeID

Nghị định 88/2026 về quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo được ban hành ngày 28/3/2026, trong đó quy định việc xây dựng và khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của người học.

Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 88/2026, dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời được tạo lập với các nội dung chính gồm:

- Thông tin học bạ phản ánh toàn bộ quá trình học tập, kết quả học tập và rèn luyện trong giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên;

- Thông tin về văn bằng, chứng chỉ sau khi tốt nghiệp hoặc hoàn thành chương trình đào tạo, bồi dưỡng; thông tin công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

- Thông tin kết quả học tập trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp;

- Thông tin chứng nhận kết quả đánh giá năng lực qua các kỳ thi, kiểm tra do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức; thông tin về giải thưởng, thành tích học tập;

- Thông tin xác nhận đang theo học tại cơ sở giáo dục.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 12 Nghị định 88/2026 quy định về việc khai thác, sử dụng dữ liệu giáo dục và đào tạo.

Theo đó, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống giáo dục quốc dân có trách nhiệm chuẩn bị hạ tầng công nghệ hoặc sử dụng dịch vụ phù hợp để tạo lập, cập nhật và báo cáo dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời theo quy định.

Sau khi được tiếp nhận và lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo, dữ liệu sẽ được chia sẻ, liên thông và tích hợp tự động trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID.

Cá nhân có quyền khai thác dữ liệu hồ sơ học tập của mình trên ứng dụng này và sử dụng với giá trị tương đương các loại giấy tờ truyền thống.

Như vậy, từ ngày 15/5/2026, học bạ, bằng cấp cùng nhiều thông tin học tập quan trọng của người học sẽ được tích hợp trên VNeID, cho phép sử dụng thay cho bản giấy, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in

Thông tư 22/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 06/4/2026, có hiệu lực từ ngày 22/5/2026, đã quy định rõ về việc chuyển thể sách giáo khoa bản in sang sách giáo khoa điện tử, trong đó một nội dung đáng chú ý là khẳng định sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in.

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 22/2026, sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên cơ sở sách giáo khoa bản in đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, bảo đảm tính khoa học, chính xác và sư phạm của nội dung dạy học.

Việc chuyển thể sang định dạng số chỉ nhằm bổ sung yếu tố công nghệ, tăng khả năng tương tác và hỗ trợ quá trình dạy học, không làm thay đổi bản chất nội dung của sách giáo khoa.

Đáng chú ý, Thông tư quy định rõ rằng sách giáo khoa điện tử không thay thế sách giáo khoa bản in và không mang tính bắt buộc đối với cơ sở giáo dục, giáo viên, học sinh.

Quy định này cho thấy định hướng triển khai sách giáo khoa điện tử theo hướng hỗ trợ, bổ sung cho hoạt động dạy học, thay vì thay thế hoàn toàn phương thức truyền thống.

Bên cạnh đó, việc xây dựng và sử dụng sách giáo khoa điện tử phải tuân thủ các nguyên tắc chặt chẽ. Nội dung phải phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, tuân thủ pháp luật về bản quyền, sở hữu trí tuệ, bảo mật thông tin và các quy định có liên quan.

Đồng thời, sách giáo khoa điện tử phải gắn với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, phù hợp với xu thế giáo dục tiên tiến, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển công dân số.

Một yêu cầu quan trọng khác là không được thu thập, khai thác thông tin, dữ liệu người dùng trái quy định và phải bảo vệ thông tin cá nhân của học sinh, giáo viên theo quy định pháp luật.

Đây là nội dung nhằm bảo đảm an toàn dữ liệu trong quá trình triển khai sách giáo khoa điện tử trên môi trường số.

Bổ sung mức Tiền bậc 1 trong Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam từ 31/5/2026

Thông tư 33/2026, ban hành ngày 15/4/2026, bổ sung Tiền bậc 1 (Pre A1) vào Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam (KNLNNVN). Khung này được xây dựng tham chiếu CEFR và chia thành 3 cấp như sau:

Cấp độ

KNLNNVN

CEFR

 

Tiền bậc 1

Pre A1

Sơ cấp

Bậc 1

A1

 

Bậc 2

A2

Trung cấp

Bậc 3

B1

 

Bậc 4

B2

Cao cấp

Bậc 5

C1

 

Bậc 6

C2

Theo Điều 3 Thông tư 33/2026, KNLNNVN được sử dụng để:

- Làm chuẩn thống nhất về năng lực ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.

- Làm căn cứ xây dựng chương trình, giáo trình, kiểm tra, đánh giá và chuẩn đầu ra.

- Hỗ trợ giáo viên trong giảng dạy, giúp người học tự đánh giá năng lực.

- Phục vụ việc công nhận, quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ và hợp tác quốc tế theo CEFR.

Áp dụng Khung năng lực số cho giáo viên từ 12/5/2026

Ngày 27/3/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 18/2026 quy định về Khung năng lực số đối với giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên.

Theo Điều 1 của Thông tư này, Khung năng lực số được áp dụng đối với đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và các tổ chức, cá nhân có liên quan; là căn cứ để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá năng lực số trong toàn ngành giáo dục.

Khung năng lực số được sử dụng để xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng; hỗ trợ giáo viên, cán bộ quản lý tự đánh giá, phát triển năng lực; đồng thời bảo đảm sự thống nhất về yêu cầu năng lực số trong toàn hệ thống giáo dục.

Về tổ chức thực hiện, Điều 3 quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giáo viên.

Trong đó, cơ sở đào tạo phải tích hợp nội dung năng lực số vào chương trình đào tạo; giáo viên, cán bộ quản lý chủ động tham gia bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm.

Khung năng lực số ban hành kèm theo Thông tư xác định các khái niệm nền tảng như công nghệ số, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo, môi trường số và được cấu trúc gồm 6 miền năng lực với 20 năng lực thành phần.

Các miền năng lực trọng tâm gồm: tổ chức dạy học trong môi trường số; kiểm tra, đánh giá; trao quyền cho người học; phát triển kỹ năng công nghệ số; bảo đảm an toàn số và phát triển chuyên môn.

Bình luận