028.38225933 (Hotline) - 028 3822 1188 (FM 95.6) - 028 38291 357
icon-radio-fm-999-mhz
logo-voh-radio-online
Điện thoại: 028.38225933 - 028.38225934
Đường dây nóng bạn nghe đài: 028.3891 357 - 0948747571
Sự kiện:  Đời sống, Sống đẹp

Cuộc đời đầy bi kịch của cha đẻ ngành khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo Alan Turing

(VOH) - Alan Turing được mệnh danh là cha đẻ nền công nghệ máy tính và A.I (trí tuệ nhân tạo) nhưng cuộc sống lại vô tình bị những định kiến lạc hậu đày đoạ.

Từ trước đến nay, tài năng dường như chưa bao giờ là một món hàng miễn phí. Lật lại trang sử của những bộ óc vĩ đại nhất thế giới, ta tìm thấy ở họ một điểm chung - thăng trầm. Alan Turing là một ví dụ điển hình cho quy luật đó.

1.Tiểu sử Alan Turing.

1.1 Thời niên thiếu của Alan Turing

Alan Turing (1912-1954) sinh tại thành phố London nước Anh. Ngay từ nhỏ, cậu bé Aylan đã bộc lộ năng khiếu trong lĩnh vực toán học và hoá học. Năm 16 tuổi, Alan Turing đã hiểu được nội dung các tác phẩm của Albert Einstein, không những thế ông còn suy luận về những thắc mắc của Einstein đối với các định luật về chuyển động Newton. 

Bốn năm học tại King’s College của Đại học Cambridge, Alan Turing đã thể hiện rõ mình là người có tài năng thiên bẩm. Trong thời gian này ông đã viết những bài báo nổi tiếng về những vấn đề toán học mà thời ấy chưa từng có. Đồng thời ông cũng nảy ra ý tưởng về một máy Turing vạn năng - cỗ máy có thể làm bất cứ điều gì.

Alan Turing - người anh hùng thầm lặng bên Bletchley Park 1

Alan Turing hồi trẻ

Mới 25 tuổi, Alan Turing đã là thành viên của Viện Khoa học của King’s College. Từ năm 1936 - 1938, Alan Turing tiếp tục con đường học hành của mình và lấy được bằng tiến sĩ trong ngành toán học tại Đại học Princeton(Mỹ). Ngoài ra ông cũng cùng thầy mình - Alonzo Church đưa ra Luận đề Church - Turing. 

Năm 1939, Alan Turing quay trở lại nước Anh. Không lâu sau đó, tháng 3/9/1939, Đức tuyên chiến với Anh, Thế Chiến II chính thức nổ ra.

Xem thêm: Những thành tựu nổi bật và danh ngôn đầy lãng mạn của ‘hoàng tử’ toán học Carl Gauss

1.2. Những năm tháng cống hiến thầm lặng của Alan Turing tại Bletchley Park

Đức khi ấy là đất nước đi đầu thế giới về mọi mặt khoa học. Để chuẩn bị cho chiến tranh thế giới mới, Hitler đã tập hợp những nhà nghiên cứu xuất sắc nhất để chế tạo ra cỗ máy - Enigma. 

Enigma được mệnh danh là kiệt tác soạn - giải mã, là thành tựu nghiên cứu tuyệt vời từ nguyên lí cờ vua, trò chơi ô chữ, ngôn ngữ, toán và vật lý học. Từ 26 chữ cái La-tinh đơn giản, Enigma có thể cho ra 8000 tỷ bí ẩn. Do đó những bức điện của Đức được bảo mật khỏi những máy ghi âm thời bấy giờ. 

Alan Turing - người anh hùng thầm lặng bên Bletchley Park 2

Kiệt tác soạn - giải mã Enigma

Thời gian đầu, phát xít Đức sử dụng rất thành công cỗ máy này để liên lạc với các đồng minh. Phía chống phát xít không tài nào giải được thứ mật mã phức tạp này, do đó phải chịu tổn thất nặng nề.

Bletchley Park - cơ sở bí mật chuyên giải mã được thành lập bởi Hoàng gia Anh, đứng đầu là Alan Turing. Ông cho rằng chỉ một cỗ máy mới có thể đánh bại một cỗ máy khác.

 Alan Turing và các đồng nghiệp của mình làm việc cật lực suốt 6 tháng dưới áp lực khủng khiếp từ mọi phía. Cuối cùng 18/3/1940, khắc tinh của Enigma ra đời - Turing Bombe. Mỗi ngày Turing Bombe có thể giải mã 3000 bức điện của phát xít Đức, từ đó tạo ra thế chủ động cho quân đội Anh.

Turing Bombe ưu việt hơn hẳn so với Enigma và là một kỳ quan của kỹ thuật cơ khí và điện. Một máy Turing Bombe có thể sánh ngang với 26 máy Enigma. 

Từ tháng 7/1940 - tháng 5/1941, Đức đã mất khoảng 1500 máy bay và phi công. Alan Turing đã cứu hàng triệu mạng sống của người dân nước Anh và giảm thiểu ít nhất 2 năm chiến tranh thế giới.

Không có Turing BomBe cục diện Thế chiến II đã khác. Kelsey Griffin - Giám đốc Viện Bảo tàng Công viên Bletchley nói: ‘Turing xếp ngang hàng cùng Churchill như một trong những người Anh vĩ đại của chúng ta.’ Những con gà đẻ trứng vàng thì không bao giờ kêu cục tác, chính vì thế mà thủ tướng nước Anh - Winston Churchill đã giữ bí mật về mọi công tác giải mã nhóm 12 nghìn người của Alan Turing.

Cho tới tận năm 1989, tức là 44 năm sau Thế Chiến II, khi Chính phủ Anh công bố một số tài liệu mật về Thế chiến II, người ta mới biết đến sự tồn tại của Bletchley Park cũng như những cống hiến to lớn của hàng nghìn con người vĩ đại, trong đó có Alan Turing.

Xem thêm: Những câu nói nổi tiếng của Adolf Hitler

2. Alan Turing và cuộc sống sau thế chiến II

Khoảng thời gian đầu chiến tranh thế giới thứ II, sự nghiệp khoa học của Alan Turing rất thuận buồm xuôi gió. Ông nghiên cứu lí luận máy tính tại Phòng Thí Nghiệm Vật lý Quốc Gia. Năm 1946, Alan Turing được Hiệp hội Hoàng gia Anh trao huân chương OBE. 

Năm 1947 - 1948, ông giữ chức Phó Giám Đốc Phòng Thí nghiệm tính toán tại Đại học Manchester và tiếp tục nghiên cứu vấn đề trí tuệ nhân tạo.

Alan Turing - người anh hùng thầm lặng bên Bletchley Park 3

Kỳ phùng địch thủ của Enigma - Turing Bombe

Năm 1949 Turing trở thành nhà khoa học đầu tiên thực tế dùng máy tính để nghiên cứu toán học. Năm 1950 ông công bố luận văn “Máy tính và trí năng”, đưa ra “Phép thử Turing” (Turing Test) nổi tiếng, đặt nền móng cho khoa học trí tuệ nhân tạo.  Hiện nay, "Turing test" là "cốt lõi" quyết định thành công hay thất bại của bất kỳ cỗ A.I nào.

Ông lại tiếp tục đào sâu các vấn đề về lĩnh vực phi tuyến tính ở các loài sinh vật vào năm 1951. Không lâu sau đó, Alan Turing được bầu làm viện sĩ của Hội Khoa học Hoàng gia. Tuổi 39 tại đỉnh cao danh vọng, định mệnh đột ngột rẽ hướng, Alan Turing bất ngờ phải đón nhận bi kịch trái ngang của cuộc đời.

Năm 1952, một người đàn ông lạ mặt thông đồng với Arnold Murray đột nhập vào nhà ông. Trong quá trình điều tra, Alan Turing thừa nhận bản thân có mối quan hệ đồng giới với Murray. Toà án kết ông tội “vi phạm thuần phong mỹ tục”, Alan Turing buộc phải bị thôi việc. 

Toà đưa ra hai hình phạt: chấp nhận ngồi tù hai năm hoặc quản thúc tại gia bằng phương pháp điều trị hoá học. Alan Turing đã chọn phương án thứ hai. Cuộc đời ông là những bài toán chính xác, nhưng có lẽ giây phút quan trọng nhất ông đã lỡ tính toán sai.

Trong một năm liền, phải chịu những hành hạ về thể xác đã tổn thương tinh thần ông nghiêm trọng. Không thể chịu đựng được những lời buộc tội nghiệt ngã cũng những biến đổi không bình thường của cơ thể. Alan Turing quyết định tự kết liễu vào ngày 7/6/1954 ở độ tuổi 42 - độ tuổi ông có thể cống hiến nhiều hơn thế.

Xem thêm: Những phát minh vĩ đại của Thomas Edison làm thay đổi thời đại

3. Alan Turing - những danh ngôn bất hủ

Bên cạnh những cống hiến vĩ đại cho ngành khoa học máy tính, Alan Turing cũng để lại những câu nói truyền cảm hứng cho mọi con người, ở mọi thời đại.

  1. “Sometimes it is the people no one can imagine anything of who do the things no one can imagine.”
    Tạm dịch : Đôi khi người mà không ai nghĩ đến có thể làm những điều không ai nghĩ tới.
  2. “Those who can imagine anything, can create the impossible.”
    Tạm dịch: Điều không tưởng được tạo ra bởi người có thể tưởng tượng những điều không thể.
  3. “If a machine is expected to be infallible, it cannot also be intelligent.”
    Tạm dịch: Nếu một cỗ máy được kỳ vọng là không thể sai lầm, thì nó cũng không thể thông minh.
  4. “We can only see a short distance ahead, but we can see plenty there that needs to be done"
    Tạm dịch: Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy một khoảng cách ngắn phía trước, nhưng chúng ta có thể thấy rất nhiều điều cần phải làm.
  5. “A very large part of space-time must be investigated, if reliable results are to be obtained.
    Tạm dịch: “Một phần lớn của không gian- thời gian phải được điều tra, nếu muốn thu được kết quả đáng tin cậy.
  6.  “It is possible to invent a single machine which can be used to compute any computable  sequence.”
    Tạm dịch: Có thể phát minh ra một máy duy nhất có thể được sử dụng để tính toán bất kỳ trình tự có thể tính toán nào.
  7. “A computer would deserve to be called intelligent if it could deceive a human into believing that it was human.”
    Tạm dịch: Một chiếc máy tính xứng đáng được gọi là thông minh nếu nó có thể đánh lừa con người tin rằng đó là con người.
  8.  “Finding such a person makes everyone else appear so ordinary…and if anything happens to him, you’ve got nothing left but to return to the ordinary world, and a kind of isolation that never existed before.”
    Tạm dịch: Việc tìm thấy một người khiến mọi người khác trông thật bình thường… và nếu có bất cứ điều gì xảy ra với anh ta, bạn sẽ không còn gì ngoài việc trở về thế giới bình thường, và một kiểu cô lập chưa từng tồn tại trước đây.
  9. “Finding such a person makes everyone else appear so ordinary…and if anything happens to him, you’ve got nothing left but to return to the ordinary world, and a kind of isolation that never existed before.”
    Tạm dịch: Việc tìm thấy một người như vậy khiến mọi người khác trông thật bình thường… và nếu có bất cứ điều gì xảy ra với anh ta, bạn sẽ không còn gì ngoài việc trở về thế giới bình thường, và một kiểu cô lập chưa từng tồn tại trước đây.
  10. “The isolated man does not develop any intellectual power. It is necessary for him to be immersed in an environment of other men, whose techniques he absorbs during the first twenty years of his life. He may then perhaps do a little research of his own and make a very few discoveries which are passed on to other men. From this point of view the search for new techniques must be regarded as carried out by the human community as a whole, rather than by individuals."
    Tạm dịch: Người đàn ông bị cô lập không phát triển bất kỳ sức mạnh trí tuệ nào. Anh ta cần phải hòa mình vào một môi trường của những người đàn ông khác, những người mà anh ta hấp thụ những kỹ thuật trong suốt hai mươi năm đầu đời. Sau đó, có lẽ anh ta có thể tự mình nghiên cứu một chút và thực hiện một số khám phá rất ít được truyền lại cho những người đàn ông khác. Từ quan điểm này, việc tìm kiếm các kỹ thuật mới phải được thực hiện bởi toàn thể cộng đồng con người, chứ không phải bởi các cá nhân.
  11. “Do you know why people like violence? It is because it feels good. Humans find violence deeply satisfying. But remove the satisfaction, and the act becomes hollow.”
    Tạm dịch: Bạn có biết tại sao mọi người thích bạo lực không? Đó là bởi vì nó đến cảm giác tốt. Con người cảm thấy thỏa mãn một cách sâu sắc bằng bạo lực. Nhưng loại bỏ sự hài lòng, và hành động trở nên trống rỗng.

Alan Turing - người anh hùng thầm lặng bên Bletchley Park 4

  1. “The original question, 'Can machines think?' I believe to be too meaningless to deserve discussion.”
    Tạm dịch: Câu hỏi ban đầu, 'Máy móc có thể suy nghĩ không?' Tôi tin rằng nó quá vô nghĩa để đáng được thảo luận.
  2. “It seems probable that once the machine thinking method had started, it would not take long to outstrip our feeble powers… They would be able to converse with each other to sharpen their wits. At some stage therefore, we should have to expect the machines to take control.”
    Tạm dịch: Có vẻ như một khi phương pháp tư duy máy móc đã bắt đầu, sẽ không mất nhiều thời gian để  máy mócvượt xa sức mạnh yếu ớt của chúng ta… Họ sẽ có thể trò chuyện với nhau để rèn giũa trí thông minh của mình. Do đó, ở một số giai đoạn, chúng ta phải mong đợi máy móc kiểm soát.
  3. “Mathematical reasoning may be regarded rather schematically as the exercise of a combination of two facilities, which we may call intuition and ingenuity.”
    Tạm dịch: Lý luận toán học có thể được coi là một cách tương đối theo sơ đồ như một bài tập kết hợp hai cơ sở, mà chúng ta có thể gọi là trực giác và sự khéo léo.
  4. “No, I'm not interested in developing a powerful brain. All I'm after is just a mediocre brain, something like the President of the American Telephone and Telegraph Company.”
    Tạm dịch: Không, tôi không quan tâm đến việc phát triển một bộ não mạnh mẽ. Tất cả những gì tôi theo đuổi chỉ là một bộ não tầm thường, giống như Chủ tịch Công ty Điện thoại và Điện báo Hoa Kỳ.
  5. “The idea behind digital computers may be explained by saying that these machines are intended to carry out any operations which could be done by a human computer.”
    Tạm dịch: Ý tưởng đằng sau máy tính kỹ thuật số có thể được giải thích bằng cách nói rằng những chiếc máy này nhằm thực hiện bất kỳ hoạt động nào mà máy tính của con người có thể thực hiện được.
  6. “I have such a stressful job that the only way I can get it out of my mind is by running hard.”
    Tạm dịch: Tôi có một công việc căng thẳng đến mức cách duy nhất tôi có thể giải tỏa tâm trí là chăm chỉ.
  7. “Mathematical reasoning may be regarded rather schematically as the exercise of a combination of two facilities, which we may call intuition and ingenuity”
    Tạm dịch: Suy luận toán học có thể được coi là một cách tương đối theo sơ đồ như bài tập kết hợp hai cơ sở, mà chúng ta có thể gọi là trực giác và sự khéo léo
  8. “A computer would deserve to be called intelligent if it could deceive a human into believing that it was human.”
    Tạm dịch: Một chiếc máy tính xứng đáng được gọi là thông minh nếu nó có thể đánh lừa con người tin rằng nó là con người. (Turing test)

Có thể nói cuộc đời của Alan Turing gói gọn trong những thuật toán, ông luôn tính toán chính xác tất cả mọi vấn đề. Nhưng không có thứ nào là tuyệt đối, Alan Turing cũng vậy, sai lầm suy nhất của đời ông có lẽ là đã sinh ra trong thời đại không kịp bao dung cho bản ngã riêng trong con người.

Sưu tầm

Nguồn ảnh: Internet